Home Blog Page 8

Sự khác biệt giữa Trăn và Hổ Mang Chúa

0
Tr?n và H? Mang Chúa
Trăn và Hổ Mang Chúa

Trăn và rắn hổ mang chúa là hai loài bò sát thuộc hạng mục to lớn và nguy hiểm nhất thế giới. Rắn hổ mang chúa có kích thước dài nhất trong họ hàng loài rắn độc và nọc độc của chúng cũng rất mạnh, nọc độc của chúng đủ giết chết một con voi trưởng thành. Tương tự vậy, trăn gấm châu Á được biết đến là loài rắn dài nhất thế giới, chúng có thể riết chết con mồi trong vài phút. Tuy là hai loài bò sát đầy tai tiếng nhưng có rất nhiều người đang nuôi chúng như thú cưng.

Sự khác biệt cơ bản của hai loài bò sát đó là trăn là loài không có nọc độc và dùng sức mạnh cở thể để siết chặt, trong khi đó rắn hổ mang chúa được biết đến với chất độc chết người. Mặc dù trăn có kích thước lớn hơn, khỏe hơn, dài hơn và ngụy trang tốt hơn nhưng hỏ mang chua lại nhanh nhẹn hơn rất nhiều. Dưới đây chúng ta sẽ cùng phân tích sự khác biệt giữa hai loài.

Các đặc điểm của loài Trăn

Hình ảnh loài Trăn

Trăn là một họ động vật thuộc bộ rắn, tên tiếng anh của chúng là Python, một từ có nguồn gốc Hy Lạp xuất hiện đầu tiên vài những năm 1580. Trăn có thể có chiều dài tới 9 m, kích thước to lớn khiến chúng di chuyển chậm hơn. Tuy nhiên trăn dựa vào khả năng ngụy trang, sự kiên nhẫn và sức mạnh để săn mồi thành công.
Trăn là một họ động vật phân bố chủ yếu ở châu Á và châu Phi, nhưng nơi mà chúng dễ phát triển trong môi trường ấm nóng. Các loài trăn đã được ghi nhận:

  • Angolan Python (Python anchietae) – Trăn Angola
  • Burmese Python (Python bivittatus) – Trăn Miến Điện, trăn mốc
  • Bornean Short-tailed Python / Bornean Blood Python (Python breitensteini) – Trăn đuôi ngắn Borneo, Trăn máu Borneo Malaysia.
  • Brongersma’s Short-tailed Python/ Brongersma’s Blood Python (Python brongersmai)
  • Sumatran Short-tailed Python / Sumatran Blood Python (Python curtus) – Trăn đuôi ngắn Sumatra, Trăn máu Sumatra.
  • Myanmar Short-tailed Python/ Myanmar Blood Python (Python kyaiktiyo) Trăn đuôi ngắn Myanma, Trăn máu Myanma
  • Indian Python/ Black Tailed Python (Python molurus) – Trăn Ấn Độ, Trăn Đuôi Đen
  • Ball Python/ Royal Python (Python reguis) – Trăn bóng, Trăn hoàng gia ( châu Phi)
  • Reticulated Python (Python reticulatus) – Trăn gấm, trăn mắt lưới châu Á, trăn vua.
  • African Rock Python (Python sebae) – Trăn đá châu Phi
  • Timor Python (Python timoriensis) – Trăn Timor

Các loài trăn trên đều chung một họ, ở Nam Mỹ có họ trăn riêng là Boidae ( Rắn Boa hay Trăn Nam Mỹ). Vì chúng thuộc phân họ riêng ở Nam Mỹ nên chúng ta không xét ở đây, và vì theo tên goi tiếng Anh thì trăn Anaconda không được gọi là python mà chúng thường được gọi riêng là anaconda (rắn).

Các đặc điểm của rắn Hổ Mang Chúa

Rắn hổ mang chúa

Tên khoa học của răn hổ mang chúa là Ophiophagus hannah cũng xuất phát từ ngôn ngữ Hy Lạp, “ophio” nghĩa là rắn và “phagus” nghĩa là ăn thịt, được hiểu là loài ăn thịt rắn. “Hannah” có nguồn gốc từ thần thoại Hy Lạp, mang ý nghĩa là nữ thần sống trên cây. Đúng với tên gọi khoa học, chổ mang chua là loài rắn chuyên ăn thịt các loài rắn khác kể các rắn hổ mang.Rắn hổ mang chúa thường có kích thước to lớn hơn so với các loài rắn hổ mang bình thường, chúng sống ở Nam và Đông Nam Châu Á. Chiều dài cơ thể chúng có thể đạt tới trên 5 mét khiến chúng được coi là loài rắn độc dài nhất. Rắn hổ mang chúa khi bị đe dọa chúng sẽ dương cao đầu và trương rộng bành cổ. Nhát cắn của chúng cực kỳ nghiêm trọng, nó có thể giết được một con vật có kích thước lớn như voi trong vòng vài giờ đồng hồ bằng cách phóng một lượng lớn chất độc thần kinh vào cơ thể nạn nhân. Có khoảng 50% số ca người bị rắn hổ mang chúa ăn đều không qua khỏi.

Sự khác biệt giữa loài trăn và rắn hổ mang chúa

Cách hai loài săn mồi

Nằm trong họ rắn hổ, hổ mang chúa hạ gục con mồi bằng nọc độc, nọc được tiêm vào con mồi bằng hai chiếc răng nanh dạng ống. Còn trăn dùng khả năng ngụy trang cơ thể hòa lẫn với môi trường, chúng nằm chờ đợi con mồi tới và tấn công bằng cách siết chặt bóp nghẹt nạn nhân. Nếu so về tốc độ, hổ mang chúa có ưu thế hơn dựa theo kích cỡ của chúng, hổ mang chúa dùng tốc độ để truy đuổi con mồi.

Kích thước dài nhất của trăn và rắn hổ mang chúa được ghi nhận

Cá thể trăn dài nhất được kỷ lục Guinness ghi nhận là một con trăn gấm dài 7,6m. Còn cá thể rắn hổ mang chúa dài nhất được ghi nhận là 5,85m.

Phân bố địa lý của trăn và hổ mang chúa

Trăn thường được tìm thấy ở nhiều khu vực của châu Á, châu Úc, châu Phi như Nepal, Trung Quốc, Ấn Độ, Madagascar, Sahara. Trong khi rắn hổ mang chúa sinh sống ở các khu vực đặc thù như Đông Nam Á và Nam Á, bao gồm các nước như Việt Nam, Indonesia, Pakistan, Lào, Myanmar, Thái Lan.

Dấu ấn nhận biết

Không giống như loài trăn, hổ mang chúa có một đặc điểm nhận dạng đó là hành vi mở rộng bành và dương cao đầu khi cảm thấy đe dọa. Loài rắn này cũng được những người đam mê rắn dùng để phô diễn hình dáng múa lượn. Trái ngược với nhiều hiểu biết sai lầm, rắn hổ mang chúa không hề nghe tiếng nhạc gây mê hoặc mà chúng chỉ bị thu hút bởi sự chuyển động của chiếc sáo đang thổi.

Màu sắc của trăn và rắn hổ mang chúa

Loài trăn thường có hoa văn trên vảy pha các màu nâu, xanh sáng và vàng. Răn hổ mang chúa thường có màu nâu sáng pha tối, vàng, đen, xanh nhạt.

Thức ăn

Trăn thường săn các con mồi có kích thước lớn như lợn, linh dương trong khi đó hổ mang chúa thường săn các loài máu lạnh bao gồm các loài rắn khác.

Cách làm tổ

Không giống như trăn, hổ mang chúa là loài rắn biết làm tổ khi đẻ trứng.

Cách thức di chuyển của hổ mang chúa và trăn

Dựa vào kích thước cơ thể có thể thấy được tốc độ di chuyển của hổ mang chúa vượt trội hơn loài trăn. Loài trăn di chuyển theo hướng thẳng hàng bằng cơ xương sườn kết hợp sự đẩy bụng, tốc độ ước tính khoảng 1 dặm/giờ. Hổ mang chúa di chuyển theo dạng ngoằn ngoèo lượn sóng, tốc độ ước tính khoảng 5 dặm/giờ.

Bảng so sánh hai loài

Trăn vs Hổ Mang Chúa
Tên loàiTrănHổ mang chúa
Cách thức săn mồiBóp nghẹt, ngụy trang, và sự kiên nhẫnTốc độ và nọc độc
Chiều dài dài nhất được ghi nhận7,6 mét5,85 mét
Khu vực sinh sốngChâu Á, Châu Úc, và Châu PhiNam và Đông Nam Á
Dấu hiệu nhận biếtKhông có đặc điểm chungXòe bành và dương cao đầu
Màu sắcHoa văn vảyTrắng và vàng đậm
Thức ănCon mồi lớnCon mồi nhỏ và bò sát
Tổ trứngKhông làm tổLàm tổ
Chuyển độngChậm hơnNhanh hơn
KenhDongVat.Com

Khỉ Đột Phía Tây – Sự Trớ Trêu Của Việc Quá Giống Con Người

0
Khỉ đột lưng bạc trưởng thành đứng hiên ngang trong rừng rậm
Photo: Greg Hume / Wikimedia Commons / CC BY-SA 3.0

Không hiếm lần khoa học tìm thấy sự giao thoa kỳ lạ giữa thế giới động vật và loài người. Chẳng hạn, móng tay của khỉ đột có vân y hệt vân tay người, cấu trúc xương và nhóm máu cũng mang nét tương đồng sâu sắc. Đó là bởi khỉ đột phía tây mang trong mình dòng máu rất đặc biệt. Bộ gen của chúng chia sẻ nguyên vẹn đến 98,3% với ADN của con người, khiến loài vật to xác này trở thành họ hàng gần thứ hai của chúng ta trong cây tiến hóa tự nhiên.

Với một xuất phát điểm hoàn hảo như vậy, rất nhiều người sẽ lầm tưởng rằng loài sinh vật này đang phát triển hưng thịnh hoặc chí ít là sống yên bình đâu đó trong rừng nhiệt đới. Thực tế tàn nhẫn hơn rất nhiều, sự giống nhau sinh học kinh ngạc này lại chính là gót chân Achilles chí mạng của khỉ đột phía tây, đẩy chúng vào vòng xoáy nguy hiểm của dịch bệnh và lòng tham vô đáy từ giới thợ săn.

Tên khoa họcGorilla gorilla
Phân loạiHọ Người, Bộ Linh trưởng
Tình trạng bảo tồnCực kỳ Nguy cấp (IUCN)
Phân bốRừng nhiệt đới miền trung và tây Tây Phi
Kích thước1,4 đến 1,8 mét, nặng 70 đến 200 kg

Đặc điểm nhận dạng và cấu trúc cơ thể

Bước vào rừng rậm châu Phi và bắt gặp một cá thể đực trưởng thành, sự đồ sộ của nó sẽ dập tắt mọi ý định chiến đấu. Một con khỉ đột phía tây trưởng thành hay thường được gọi là “lưng bạc”, có khả năng đạt chiều cao 1,8 mét và nặng tới 200 kg. Vùng mạn sườn và lưng của chúng bắt đầu mọc lông xám bạc khi bước vào độ tuổi mười hai, một tín hiệu báo hiệu đẳng cấp thủ lĩnh.

So với các họ hàng khác, loài khỉ này sở hữu bộ lông ngắn đen nhạt xen lẫn tông màu nâu xám, một yếu tố giúp chúng tàng hình cực tốt dưới những tán cây rập rạp. Hai cánh tay của chúng dài, vươn qua cả đầu gối khi đứng thẳng để hỗ trợ tư thế di chuyển bằng gốc bàn tay đấm. Cơ bắp bả vai cuồn cuộn giúp con vật dễ dàng nâng vật nặng gấp hàng chục lần so với sức vóc một thanh niên khỏe mạnh.

Nhìn kỹ vào phần mặt của một con khỉ đột, khuôn mặt không có lông để lộ lớp da đen sần sùi. Hốc mắt sâu kết hợp với hàng lông mày nhô cao tự nhiên tạo thành ánh nhìn như một phán quan của rừng già. Chúng thể hiện đủ trạng thái cảm xúc, từ sợ hãi, bực dọc cho tới tò mò hệt như một đứa trẻ, tất cả thông qua sự chau mày hay co rút cơ miệng.

Môi trường sống và tổ chức xã hội

Vùng đất định cư của khỉ đột tập trung dọc theo các khu rừng nhiệt đới, đầm lầy và bình nguyên ven sông thuộc vùng Trung và Tây Phi, bao phủ qua các quốc gia như Gabon, Cameroon và Congo. Không giống như những người bạn họ hàng khoái leo trèo như đười ươi, mặc dù có đầy đủ tố chất chuyền cành, khỉ đột đực ưu tiên cuộc sống đi dạo và tìm mồi ngay dưới mặt đất. Chỉ những con cái nhẹ cân và đám khỉ non mới tự do bay nhảy quanh các thân cây lớn.

Lối sống của loài linh trưởng này diễn ra trong một tập thể chặt chẽ từ hai đến ba mươi thành viên. Đứng đầu là một con lưng bạc uy quyền. Thủ lĩnh không đóng vai trò một kẻ độc tài thao túng đàn mà đóng vai trò là một người cha dẫn đường. Con đực chọn hướng đi tìm thức ăn, bảo vệ cả nhóm khỏi loài báo hoa mai hung dữ. Buổi tối, trong khi bầy con cái bẻ lá khô dựng ổ nhô cao trên ngọn cây cho an toàn, con lưng bạc luôn làm tổ và ngủ ngay dưới nền đất. Giấc ngủ của nó chính là tuyến phòng thủ đầu tiên cho cả gia đình.

Chế độ ăn uống lạ lùng của thú lớn

Sức mạnh quật ngã cây to khiến nhiều nền văn hóa gán cho khỉ đột danh xưng quái thú ăn thịt khát máu. Nhưng thực tại, món ăn duy nhất nằm trên bàn tiệc của khỉ đột phía tây chỉ toàn cây xanh. Lịch trình sinh hoạt hàng ngày của chúng khá nhàn rỗi, thức dậy vào ánh bình minh, đi dạo lòng vòng cắn phá thực vật, nghỉ trưa nạp sức rồi lại tiếp tục ăn tận xế chiều.

Khẩu phần ăn 99% thực vật bao gồm chồi non, măng lá, thân chuối hay lớp vỏ cây chát xít. Cấu trúc hàm răng khỏe kết hợp với lực cắn khủng khiếp giúp cỗ máy nhai này nghiền nát thân gỗ cứng một cách dễ dàng. Một cá thể đực có thể tiêu thụ từ 18 đến 20 kg thực vật nội trong một ngày nhằm duy trì thân nhiệt và khối lượng cơ bắp khổng lồ.

Khi các mùa trái cây chín rộ đổ ập xuống vạt rừng, trái cây rừng nhanh chóng chiếm lại ngôi vương trong thực đơn hằng ngày. Một lượng nhỏ đường cung cấp năng lượng rất lớn, thi thoảng chúng điểm xuyết thêm ít chất đạm bổ sung xé lẻ từ việc nuốt gọn chút tổ kiến hoặc tổ mối. Việc kiếm ăn không chỉ duy trì sự sống mà còn lan tỏa mầm giống sinh thái trong các khu rừng phương Nam.

Không tránh khỏi nghịch lý di truyền

Sự gần gũi về mặt phân tử ADN biến khỉ đột phía tây là một hình mẫu sinh học quan trọng cho khoa học, nhưng đó cũng là cánh cửa ném chúng vào danh sách Cực kỳ Nguy cấp. Điểm đáng sợ nhất nằm ở nguy cơ nhiễm bệnh lây chéo. Virus Ebola từng quét sạch một phần ba quần thể khỉ đột trong khu vực. Cơ địa của khỉ đột kháng khuẩn tự nhiên rất kém trước những loại vi rút vốn được sinh ra để tấn công con người. Nếu một con lây, mầm bệnh nhanh chóng gieo rắc tử thần xuống toàn bộ đàn xung quanh.

Tại Việt Nam, các loài linh trưởng đặc hữu như voọc mũi hếch hay voọc chà vá chân nâu vẫn luôn gồng mình kháng cự trước sức tàn phá nghiêm trọng của nạn săn trộm. Nhìn về lục địa đen xa xôi, số phận khỉ đột phía tây không khá khẩm hơn là bao. Người ta săn khỉ đột để lấy thịt “bushmeat”, xem nó như một món ngon xa xỉ. Tay và sọ khỉ được xẻ ra làm những loại trang sức kỳ quái hay những vật bùa chú thiếu tính cơ sở khoa học phục vụ các bài thuốc phương đông không tác dụng. Tốc độ sinh sản của khỉ đột lại cực kỳ chậm, một con cái chờ đợi đến ngót bốn hoặc sáu năm để mang thai một chu kỳ kéo dài 8,5 tháng. Quá trình phục hồi số lượng cá thể không thể thắng nổi sức tiêu diệt của lưỡi rìu và súng đạn. Ước tính từ IUCN cho thấy quần thể khỉ đột tây bộ sẽ giảm hơn 80% chỉ trong vài thế hệ tiếp theo.

Câu hỏi thường gặp

Khỉ đột phía tây có ăn thịt người không? Hoàn toàn không. Trái với thân hình đồ sộ đáng sợ, khỉ đột là loài hiền lành. Chế độ ăn của chúng lặp đi lặp lại chỉ toàn là búp non, măng, hoa quả và thi thoảng một ít côn trùng dính trên lá cây.

DNA của khỉ đột phía tây giống người bao nhiêu phần trăm? Hệ gen của khỉ đột phía tây có điểm tương đồng với con người lên tới 98,3%. Sợi ADN xoắn kép này biến chúng thành người nhà gần thứ hai của loài người, chỉ xếp sau vượn người và họ tinh tinh.

Một con khỉ đột lớn cỡ nào? Khi đứng thẳng để vỗ ngực, con đực trưởng thành (lưng bạc) nặng tới 140-200 kg và cao 1,8 mét. Trong nhóm linh trưởng thì con đực vượt trội tuyệt đối về cân nặng so với con cái, vốn chỉ đạt chừng 70-100 kg.

Tại sao khỉ đột phía tây kêu rên khi ăn? Hành vi phát ra âm thanh như thở lầm bầm khi ăn là một kiểu giao tiếp quen thuộc. Việc ngân vang giọng sẽ giúp khỉ đột khẳng định chủ quyền lãnh thổ với môi trường và báo hiệu an ninh tuyệt đối đang bao trùm cả khu vực tổ nhóm.

Loài vật này sống được thời gian bao lâu? Trong môi trường tự nhiên, một lứa khỉ đột sống từ 35 đến 40 năm tuổi. Nếu dời bối cảnh sang các trung tâm thú y hiện đại, chúng sống vượt mốc nửa thế kỷ do tách biệt khỏi biến cố thiên tai và sự chực chờ săn bắn từ con người.

Khỉ đột phía tây, loài vật đứng sát bên cạnh nấc thang lịch sử con người, đang đứng ở ngưỡng cửa của bóng tối quên lãng. Hiện IUCN ước tính chỉ còn dưới 250.000 cá thể khỉ đột tây bộ trong tự nhiên. Nếu xu hướng này không đảo chiều, chúng có thể tuyệt chủng chức năng trong vòng 3 thế hệ tiếp theo.


Tài liệu tham khảo: 1. IUCN Red List – Western Gorilla (Gorilla gorilla) 2. World Wildlife Fund (WWF) – Western Lowland Gorilla 3. Wikipedia – Western Gorilla

Ếch Cây – Tree Frog

0
?ch cây mùa sinh s?n
Ếch cây mùa sinh sản
Bản đồ phấn bố của loài Ếch Cây
Bản đồ phấn bố của loài Ếch Cây

Ếch cây là những loài ếch nhỏ dành phần lớn thời gian sống ở trên cây. Ếch cây thường trú ngụ ở các khu rừng có khí hậu ấm nóng ở trên toàn thế giới.

Dễ dàng phân biệt loài ếch cây với những loài ếch khác bằng cách nhìn vào các ngón chân hình dĩa tròn. Các ngón chân tròn cho phép ếch có thể bám dính lên cành và lá dễ dàng hơn khi di chuyển.

Hiện tại có bốn loài ếch cây chính, với đa dạng kích cỡ từ 2 – 10 cm chiều dài cơ thể. Loài nhái bén châu Âu (The European tree frog) sống ở đồng cỏ và cây bụi trải khắp Đông Âu nhưng chúng đang ở tình trạng bị đe dọa ở Tây Âu. Ếch cây mép trắng (The Common tree frog) là loài ếch nhỏ nhất trong gia đình ếch cây, chúng sống ở nhiều nhiều môi trường sống khắp vùng Đông Nam Á.

Ếch cây Châu Âu

Ếch cây Cuba (Cuban tree frog) là loài lớn nhất trong bốn loài ếch cây, chúng là loài ếch đặc hữu của Cuba, chúng sống quanh các hòn đảo nhưng hiện nay đã được thả sinh sống ở Florida, vùng vịnh Caribbe và Hawaii. Ếch cây mắt đỏ (The Red-Eyed tree frog) là loài dế phân biệt nhất trong họ hàng ếch cây, chúng là loài bản địa của vùng Trung Mỹ. Ếch cây mắt đỏ có cơ thể eo nhỏ được che dấu dưới cặp chân dài, cùng với đó là đôi mắt màu đỏ đậm.

Cũng giống như các loài ếch nhái khác, ếch cây là loài động vật săn mồi, chúng chủ yếu ăn các loài côn trùng, sâu, và nhện. Loài ếch cây Cuba ăn tất cả mọi thứ nếu vừa khoang miệng bao gồm cả thằn lằn, rắn, các loài gặm nhấm nhỏ, thậm chí là những con ếch khác.

Ếch Cây Cuba

Vì kích thước nhỏ con nên ếch cây có rất nhiều loài ăn thịt chúng ở bất cứ đâu trên thế giới. Bao gồm chim, động vật lớn, bò sát với đa dạng kích cỡ. Ếch cây cũng được xem là thức ăn ưa thích của các loài cá lớn.

Ếch cây mùa sinh sản

Trong mùa sinh sản, ếch cây sẽ kêu lên những âm thanh vang để gọi bạn tình. Ếch cây cái đẻ trứng trên những chiếc lá ngay phía trên mặt nước, trứng sẽ nở thành ấu trùng ếch sau vài ngày và rơi xuống nước bên dưới. Quá trình biến đổi từ nòng nọc sang ếch trưởng thành mất khoảng vài tuần cho đến vài tháng tùy vào loài ếch cây.

So sánh Khỉ Đột và Gấu Xám

0
Kh? ??t và g?u xám
Khỉ đột và gấu xám
[poll id=”7″]

Bộ phim King Kong có thể đã gây ấn tượng xấu về khỉ đột Gorilla, sự thực khỉ đột là loài vật rất thận thiện, chúng dễ dàng tương tác với con người và các loài động vật khác mà không gây lộn. Không giống như kẻ họ hàng chúng là tinh tinh, khỉ đột rất hiếm khi tấn công con người kể cả những lúc chúng cảm thấy bị đe dọa hay lúc không thoải mái.

Gấu xám Bắc Mỹ thì ngược lại, chúng là sinh vật rất hiếu chiến, có thể bóp chặt và hạ gục bất cứ loài nào dám tiến tới gần chúng. Khi bị bực tức, đôi khi chúng sẽ giết hại cả đồng loại để hả giận. Tốt nhất nên tránh xa gấu xám, nếu không hậu quả chết chóc là điều có thể đoán biết.

Khỉ Đột và Gấu Xám là hai loài động vật có thể hình to lớn khỏe mạnh, sẽ ra sao nếu hai loài động vật này được đưa vào khu vực chiến đấu? Trước tiên chúng ta hãy phân tích điểm mạnh riêng của từng loài.

Thông tin về loài Gấu Xám

Gấu xám Bắc Mỹ
  • Chúng là loài gấu nâu, tên đầy đủ gấu xám Bắc Mỹ.
  • Chúng chỉ sống ở Bắc Mỹ hầu hết ở bang Alaska và Montana. Các tỉnh Alberta và British Colombia của Canada.
  • Môi trường sinh sống là các lãnh nguyên xa xôi, rừng rậm ôn đới và đồng cỏ bằng phẳng, đồi cỏ núi cao ở Bắc Mỹ.
  • Số lượng loài gấu nâu khoảng 55,000 con.
  • Tuổi thọ từ 20 – 25 năm.
  • Chiều dài cơ thể tối đa khoảng 2,1 m.
  • Khi đứng bằng 4 chân, chiều cao vai là 1,5 m. Khi đứng thẳng chiều cao đạt tới 3 m.
  • Con đực thường có kích thước lớn hơn con cái.
  • Gấu xám đực trưởng thành nặng khoảng 135 – 380 kg, gấu cái nặng khoảng 90 – 200 kg.
  • Tốc độ tối đa khi chạy là 55 km/h.
  • Gấu xám là động vật ăn tạp, thức ăn của chúng là thực vật và các loài động vật bao gồm cỏ, quả mọng, nấm, các loại hạt, côn trùng, hươu, nai, bò bison, chuột và cả xác chết động vật.
  • Gấu xám tăng thêm 1,5 kg mỗi ngày trong suốt cuốt mùa hè và đầu mùa thu. Cân nặng của chúng giảm dần trong thời kỳ ngủ đông.
  • Là loài động vật sống đơn độc nhưng không có tính lãnh thổ.
  • Tuổi trưởng thành động dục sau 4 – 5 năm tuổi.
  • Thời kỳ giao phối giữa tháng 5 đến hết tháng 6.
  • Thời kỳ mang thai kéo dài 180 – 270 ngày.
  • Sinh sản tối đa 4 con.
  • Gấu đực không tham gia việc chăm sóc con.
  • Gấu cái chăm sóc con cho đến khi gấu con đạt 3 tuổi. Sau đó gấu con tách ra sống tự lập.
  • Gấu cái thường thích sống gần khu vực mẹ chúng sống, gấu đực sẽ thích đi xa hơn.
  • Gấu xám có thể trèo cây, tùy thuộc vào kích thước và hướng cây mọc.
    Gấu xám có thể ăn thịt đồng loại, một số đã từng giao phối với gấu trắng Bắc Cực.
    Gấu xám rất thông minh. Chúng đủ thông minh để trốn khỏi các thợ săn, gấu xám có thể nhớ tốt các vị trí đã từng săn mồi từ 10 năm trước.

Thông tin về Khỉ Đột

Khỉ đột
  • Có hai loài khỉ đột, khỉ đột phía đôngkhỉ đột phía tây. Ở đây chúng ta chỉ xét về loài khỉ đột phía tây.
  • Khỉ đột phía tây nhỏ hơn khỉ đột phía đông.
  • Khỉ đực nặng hơn khỉ cái.
  • Khỉ đực cao tới 1,8 m và nặng tới 140 kg, khỉ cái cao 1,5m nặng chỉ 70kg.
  • Tuổi thọ trung bình của khỉ đột là 40 năm, khi nuôi nhốt tốt có thể sống tới 50 năm tuổi.
  • Tốc độ chạy tối đa 40 km/h.
  • Màu long xám đen.
  • Khỉ đột là loài cực kỳ nguy cấp.
  • Khỉ đột là loài ăn thực vật, thức ăn chủ yếu là trái cây, lá, vỏ cây và hoa, thỉnh thoảng chúng sẽ ăn kiến mối và các loại côn trùng để tăng thêm chất.
  • Là loài động vật đặc hữu ở các cánh rừng phía Tây Trung Phi bao gồm các nước Congo, Cameroon, Equatorial Guinea, Angola, Central African Republic và Gabon.
  • Khỉ đột sống thành nhóm 20 cá thể, đầu đàn là khỉ đực lưng bạc.
  • Số lượng của loài khỉ đột khoảng 90 000 cá thể.
  • Mối đe dọa trong tự nhiên của chúng là loài báo hoa mai, nhưng kẻ gây hại chính là con người.
  • Nạn dịch virus Ebola đã gây nên cái chết của rất nhiểu khỉ đột phương Tây.
  • Khỉ đột đực khi trưởng thành sẽ bị đuổi ra khỏi đàn, khỉ cái trẻ cũng sẽ tự giác rời khỏi đàn để ngăn giao phối cận huyết.
  • Khỉ đột mật tới 8-9 năm để đạt tuổi trưởng thành để giao phối.
  • Thời gian mang thai kéo dài khoảng 8 tháng 15 ngày.
  • Khỉ đột chỉ sinh một con, chúng rất hiếm khi sinh đôi.
  • Khỉ cái chăm sóc con cho đến khi khỉ con đạt 5 tuổi.
  • Chúng sẽ đi khắp nơi trong vòng bán kính 4 km để kiếm thức ăn.
  • Chúng không phải là loài vật hung bạo. Khi cần hpari phòng thủ, chúng sẽ đứng bằng hai chân và dùng hai tay trước vỗ mạnh ngực phát ra tiếng kêu.
  • Chỉ có khỉ đực đầu đàn có quyền được giao phối với tất cả khỉ cái trong đàn.
  • Khỉ đột đực không đảm nhận công việc chăm sóc con.

Bảng so sánh Khỉ Đột và Gấu Xám


[table id=7 /]

Cuộc chiến thực tế giữa Khỉ Đột và Gấu Xám

Thực tế khỉ đột và gấu xám sống ở hai châu lục và điều kiện khí hậu rất khác nhau. Điều đó không có nghĩa là không thể so sánh hai cuộc chiến giữa hai loài. Nếu chúng cùng được đưa vào một khu vực chiến đấu, có thể một cuộc chiến thảm khốc tương tàn sẽ xảy ra.

Gấu xám được biết là loài động vật rất mạnh mẽ, hàm răng của chúng có thể xé xác con mồi dễ dàng.

Khỉ đột là loài động vật linh hoạt, chúng rất nhanh nhẹn, có thể trèo cây với tốc độ rất nhanh. Điều này là một lợi thế khi chiến đấu với gấu xám, nó có thể tấn công gấu xám từ nhiều hướng kiểu “hit and run” nếu cần.

Ngược lại gấu xám quá mạnh mẽ, nếu khỉ đột không may bị gấu vồ được, khỉ đột chắc chắn sẽ bị thương. Cuộc chiến diễn ra có thể đi theo hướng mèo vờn chuột Tom & Jerry. Khỉ đột thông minh hơn gấu xám một chút, chúng dễ dàng biết tấn công vào lúc nào và ở đâu.

Thật khó đoán biết kết quả thực chiến giữa Khỉ Đột và Gấu Xám. Mỗi con đều có cơ hội dành chiến thắng. Kẻ chiến bại hầu như nắm chắc cái chết.

Chim Cắt vs Chim Ưng: Khác Biệt Cốt Lõi Giữa 2 Sát Thủ

0
Chim cắt lớn (Falco peregrinus) đang sải cánh trên bầu trời
Photo: john581 / Wikimedia Commons / CC BY 2.0

Thiên nhiên có hàng nghìn loài chim săn mồi với kích cỡ và năng lực khác nhau. Nếu ngước lên bầu trời và thấy một bóng đen lao vút quắp con mồi, bạn rất dễ gọi nhầm chúng là đại bàng hay diều hâu. Tuy có lối sống đi săn tương đồng, phân họ chim cắt (Falcon) và chim ưng (Hawk) thực chất xuất phát từ hai nhánh tiến hóa lùi xa biệt lập hoàn toàn. Để nhận diện hai kẻ săn lùng này, bạn chỉ cần nhớ những quy tắc hình thể cơ bản.

1. Nguồn gốc phân loại và lịch sử tiến hóa

Tuy đều nằm trong nhóm sát thủ đi săn ban ngày, vị trí phả hệ của hai họ chim này lại rất xa nhau. Sự chia tách của cặp đôi săn mồi diễn ra theo hai hướng khác biệt mạnh mẽ.

Chim cắt đứng trong họ Cắt (Falconidae). Xét theo bảng cấu trúc gen hiện đại do Viện Điểu học Quốc tế công bố, nhành máu mủ của loài này lại có liên kết mật thiết với các loài chim ca hát nhỏ nhắn hoặc đàn vẹt hơn là những ác điểu mỏ quặp mà bạn lầm tưởng. Quá trình chọn lọc tự nhiên đã mài giũa cơ thể chúng thuôn nhọn nhằm chạm đến vận tốc cực hạn.

Mặt tự nhiên khác, nền tảng chim ưng nằm gọn trong họ Ưng (Accipitridae) khổng lồ, một gia tộc quy tụ những con đại bàng bệ vệ hay diều hâu dũng mãnh. Cấu trúc xương của chim ưng giữ bản thiết kế nở nang, cặp đùi bạnh ra cơ bắp thích hợp làm kẻ thống trị trong điều kiện hẹp rậm rạp. Chênh lệch tiến hóa này giải thích hoàn toàn định hướng rình rập và kiểu dáng cánh bay của hai loài thú có cánh.

2. Đặc điểm thiết kế hình thể và độ xải cánh

Khác biệt đập ngay vào mắt nhất giữa cắt và ưng chính là đôi cánh. Tạo hóa đã vạch cho chúng hai bản thiết kế hoạt động ở trên không hoàn toàn khác nhau để tối đa hóa ưu thế sinh tồn.

Cánh chim cắt nhọn hoắt. Hai viền cánh của chúng vuốt ngược ra phía sau giống hệt một lưỡi liềm chém thủng làn gió chói tai. Trái ngược lại, khi nhìn phần cánh của chim ưng bay vút bên dưới mây, bạn sẽ thấy lớp cánh được bung rộng ra toàn diện và các nhóm lông vũ chóp cánh tưa mảng ra hệt như găng tay nan xòe. Thiết kế lông xòe này mang sứ mệnh lượn ôm gió trong từng điều kiện địa hình phức tạp.

Hệ đập nhịp cánh nối tiếp cách vận hành cũng không chung quan điểm. Chim cắt giữ một nhịp đập nhanh gọn, mạnh bạo không có khoảng trễ để vớt đà lực đẩy. Ngài ưng bay tĩnh mịch, điềm nhiên vung sải theo từng nhịp để đỡ điện tốn hao và thoải mái trượt tựa vào bề mặt dòng nhiệt đẩy tới phía trước.

3. Cuộc chiến tốc độ bổ nhào vút đỉnh

Chim ưng bung cặp móng vuốt mạnh mẽ để vồ mồi
Photo: Wikimedia Commons / CC BY-SA 3.0

Bầu không trung thông thoáng chính là đường đua kiêu sa của chim cắt vĩ đại. Tổ chức National Geographic xác lập kỷ lục rơi do sức hút của nhóm cắt lớn (Peregrine Falcon) đạt mốc dơi tới giật mình ở số 389 km/h. Với khối thể tích co hẹp lao qua áp suất, chúng xé sạch bề mặt cản trở dầy đặc vướng víu. Thêm nữa, cắt sở hữu lớp da màng nháy bọc nhãn cầu có vai trò che chở mắt mình nguyên vẹn kể cả trong va đập áp suất cao.

Đối diện cùng người vút thẳng kia, ưng cất giọng rải ngang dọc nhịp nhàng ẩn dật lẩn thấu. Khảo sát chỉ lượm lặt Khướu ưng gằn bay khéo léo qua bụi khoảng 60 đến 100 km/h. Dù chậm, những viền cánh xỏ lách đã giúp ưng ngoạn mục chuyển ngoặt vượt chằng rào dây leo mọc khít để khóa mạng thằn lằn. Một con chim lách lướt góc rảo zích zắc khéo đến nỗi nạn nhân không kịp lẩn mình bỏ chạy trước vách lá chết chóc chực chờ rũ xuống.

4. Cơ chế vũ khí tước đoạt mạng sống con mồi

Tuy cùng là loài chim ăn thịt tàn độc, cách thức chúng kết liễu con mồi lại hoàn toàn trái ngược. Chim cắt thích tấn công thẳng vào những đàn chim đang di chuyển trên không. Bằng một cú đá tạt ngang uy lực với đôi chân khỏe, nó làm gãy cánh hoặc choáng váng mục tiêu rồi bay sượt xuống bắt lấy trước khi nạn nhân rơi chạm đất. Điều đặc biệt là vũ khí định đoạt mạng sống nằm ở phần mỏ. Mỏ trên của chim cắt có một gai sừng sắc lẹm tên là “tomial tooth”. Gai vuốt này giúp cắt đứt ngang tủy sống cổ nạn nhân một cách dứt khoát, khiến cái chết đến thật nhanh mà không cần tốn sức vật lộn.

Ngược lại với cú cắn ấy, chim ưng thường rình rập ở các cành cây cao và chọn kiểu tấn công từ trên cao bổ nhào xuống bắt những con nhái hay chuột trên nền lá khô. Đôi chân và cơ đùi của chúng cuồn cuộn sức mạnh khủng khiếp. Một khi đôi vuốt sắc thọc vào da thịt nạn nhân, chúng sẽ dùng hai chân bóp siết áp lực đè ép vào ngực khiến lồng phổi đối thủ bị nghẹt lại ngưng hoạt động. Chim ưng giệt chết con mồi hoàn toàn bằng áp lực đè nghẹt thở từ móng vuốt thay vì phụ thuộc vào một cú cạp ở miệng như họ hàng chim cắt.

5. Hiện diện và hoạt động rinh mồi tại Việt Nam

Sự linh hoạt về khí động học giúp chim cắt phân bố ở những khoảng không rộng lớn, thông thường là vách núi hẻo lánh và khu vực đồi cỏ trải dài sườn dốc đèo. Những người yêu chim ở đất nước ta dễ dàng bắt gặp những con cắt vọt qua vịnh biển Nha Trang hay lượn dọc khúc đèo uốn lượn tại dải Hải Vân lúc tiết trời phương Nam chuyển đông đến.

Đối với dòng ưng tự nhiên, chúng tìm chỗ đứng ẩn náu ở những thảm rừng mưa kín đáo như Vườn Quốc gia Bạch Mã, mảng non Cúc Phương hay Cát Tiên ướt lá. Chỗ vắng với màu lá tàn úa lại tạo cơ hội che giấu rất mạnh cho Ưng mày trắng và Diều hoa. Đôi cẳng vàng bám chắc gốc sồi chờ đợi âm thầm bao mớ cám dỗ thóp bóng chạy chuột, chớp thời cơ kết liễu gọn một bữa trưa. Dưới các vòm lá xám ẩm này, sự bọc hậu săn bắt diễn ra thầm kín tạo ra bức tranh săn lùng lặng yên mà hiểm độc trên nền đất nhiệt đới Việt.

Câu hỏi thường gặp

Làm thế nào để nhận biết chim cắt và chim ưng khi đang bay? Đặc điểm dễ nhận thấy nhất là đôi cánh. Chim cắt có đuôi cánh nhọn, thuôn dài và cong hình lưỡi liềm để rẽ không khí. Chim ưng có cánh rộng hơn, phần chóp xòe ra như những ngón tay để hỗ trợ lượn lách trong không gian hẹp.

Loài nào bay nhanh hơn giữa chim cắt và chim ưng? Chim cắt là loài giữ kỷ lục tốc độ với khả năng bổ nhào đạt 389 km/h. Khác với người láng giềng, chim ưng thường chốt tốc độ bay trong khoảng 60 đến 100 km/h nhưng lại linh hoạt hơn rất nhiều khi di chuyển giữa các cành cây.

Chim cắt và chim ưng giết con mồi bằng bộ phận nào? Chim cắt hạ gục con mồi bằng một gai xương đặc biệt nằm ở mỏ trên, cắt đứt tủy sống ngay tức khắc. Móng vuốt chỉ dùng để bắt lấy mồi. Ngược lại, chim ưng dùng sức mạnh khủng khiếp của móng vuốt để bóp chặt và xiết nghẹt thở con mồi.

Chúng có thể sống được bao lâu trong tự nhiên? Với lối sống tiêu thụ nhiều năng lượng, tuổi thọ bình quân của chim cắt kéo dài 12 đến 15 năm. Chim ưng bảo toàn năng lượng tốt hơn nhờ việc rình rập, giúp chúng duy trì cột mốc 15 đến 20 năm tại các khu rừng ít người qua lại.

Môi trường sống của cắt và ưng khác biệt như thế nào tại Việt Nam? Chim cắt chuộng không gian mở, bãi bồi, vách núi và đồi trống. Bạn có thể bắt gặp chúng từ đèo Hải Vân đến Nha Trang. Chi họ ưng cần nơi rậm rạp kín đáo như Vườn Quốc gia Bạch Mã hay Cúc Phương để ngụy trang và chớp thời cơ.

Cá Heo – Dolphin

0
Photo: NPS / Wikimedia Commons / Public domain
Bản đồ phấn bố của loài Cá Heo
Bản đồ phấn bố của loài Cá Heo

Tên gọi Cá Heo thường dùng cho loài cá heo mõm ngắn thông thường, chúng sống ở các vùng biển ấm trên khắp thế giới.

Cá heo thông thường hay sống ở các khu vực biển Địa Trung Hải, nhưng chúng cũng thường được tìm thấy ở các vùng biển sâu ngoài khơi. Tuy nhiên chúng đang có xu hướng sống ở vùng nước nông. Một số loài cá heo sẽ sống theo chu kỳ di cư nhất định trong suốt một năm.

Cá heo thông thường di chuyển theo đàn khoảng 10 – 50 con, chúng cugnx thường quần tụ thành tổ hợp lớn từ 1000 đến 2000 cá thể cùng di chuyển. Những tổ hợp cá heo này thường hoạt động có tính xã hội cao, biểu hiện qua các hàng loạt cử chỉ biểu diễn như lướt sóng, nhảy và phun nước cùng nhau.

Cá heo thông thường nằm trong danh sách những loài có tốc độ bơi nhanh nhất trong tất cả các loài động vật có vú sống dưới nước. Tốc độ bơi của cá heo lên tới 40km/h. Cá heo được biết chúng dùng tốc độ và đàn lớn, sử dụng nhiều hình thức bắt mồi.

Báo Đốm – Jaguar

0
Báo ??m
Báo đốm

Giới thiệu về loài Báo Đốm

Bản đồ phấn bố của loài Báo Đốm
Bản đồ phấn bố của loài Báo Đốm

Báo đốm là loài mèo hoang dã có kích thước lớn nhất ở châu Mỹ, và loài báo chỉ sống ở Tân Thế Giới. Báo đốm có quan hệ họ hàng gần nhất với báo hoa mai, chúng có chung ở nhiều đặc điểm bao gồm các đốm lông nổi bật trên cơ thể. Báo đốm là loài mèo có kích thước lớn thứ ba trong họ hàng chúng, xếp sau HổSư Tử, chúng nổi tiếng với sức mạnh to lớn và tốc độ nhanh nhẹn. Tên tiếng Anh của báo đốm là jaguar bắt nguồn từ phiên âm của người bản địa châu Mỹ yaguar có nghĩa là “kẻ ám sát với một cú vồ”. mặc dù có sức mạnh vô đối, báo đốm đã bị con người săn mắt từ bao đời do chúng có bộ lông rất đẹp. Hiện tại, hành vi săn bắt báo đốm đã bị ngăn cấm nhưng số lượng của chúng đang giảm đi rõ rệt do bị mất môi trường sinh sống

Cơ thể và Hình dáng

Báo đốm là loài vật có thân hình to lớn và cơ bắp mạnh khỏe, chúng nặng và chắc chắn hơn cả Báo Hoa Mai. Chúng có cấu trúc đầu to rộng và hàm răng khỏe, được mệnh danh là loài mèo có lực cắn mạnh nhất thế giới. Báo đốm thường có bộ lông đốm vàng đen bao phủ cơ thể, những vệt đốm đen rộng như bông hoa hồng, tương tự như báo hoa mai. Hoa văn bao bọc cơ thể báo đốm là độc đáo giống như vân tay của con người, một vỏ ngụy trang hoàn hảo trong rừng rậm. Khả năng ngụy trang này là điều sống còn với báo đốm.

Môi trường sống và phân bố của báo đốm

Báo đốm là loài đặc hữu ở khu vực rừng rậm Trung và Nam Mỹ. Mặc dù lịch sử phân bố của báo đốm từng kéo dài từ các tiểu bang phía nam nước Mỹ xuống hết phía nam của châu Mỹ, thế nhưng ngày nay chúng buộc phải sống giới hạn trong các khu rừng mưa nhiệt đới ẩm Amazon. Báo đốm có xu hướng sống trong rừng rậm rạp và ẩm ướt, nơi chúng có thể dễ dàng ẩn náu để săn mồi thành công hơn. Chúng còn thích sống gần khu vực đầm lầy, sông suối, các khu vực ngập lụt theo mùa. Báo đốm đã và đang bị mất đi môi trường sống tự nhiên và nạn săn trộm hoặc bị giết vì xâm nhập khu vực chăn nuôi của con người vẫn đang diễn ra.

Hành vi và lối sống của Báo đốm

Loài báo sống ẩn dật này dành thời gian nghỉ ngơi ở trên cây và săn bắt dưới mặt đất, chúng thích có mặt ở khu vực ngập nước, các lòng sông chảy chậm và báo đốm rất hiếm khi rảo bước ở những khu vực khô ráo, hoang mạc.
Báo đốm là những kẻ bơi lội xuất sắc, chúng có thể di chuyển dưới nước rất nhanh khi truy đuổi con mồi. Cũng giống như nhiều loài mèo khác, báo đốm thích sống đơn độc ngoại trừ những năm đầu đời, báo con phải sống với mẹ. Báo đực có tính lãnh thổ rất cao, dù vậy chúng cũng sống xâm lấn sang lãnh thổ của nhiều con cái khác, chúng sẽ bảo vệ lãnh thổ rất quyết liệt đối với bất kỳ con đực nào xâm phạm.
Báo đốm đánh dấu lãnh thổ bằng nước tiểu của chúng, cào cấu lên thân cây, hoặc gầm lên với âm thanh lớn.

Sinh sản và vòng đời của Báo đốm

Báo đốm con thường được sinh ra vào khoảng tháng 12 đến tháng 3, đôi khi chúng cũng được sinh vào thời điểm khác trong năm.
Trong thời kỳ giao phối, báo đốm cái sẽ dùng tiếng gầm vang xa để thu hút con đực tiến về lãnh thỏ của nó. Báo cái thường sinh 2-3 con mỗi lứa. Khi báo con được sinh ra, báo mẹ sẽ không để cho bất cứ báo đực nào có mặt ở lãnh thổ, nó sẽ quyết bảo vệ con đến cùng. Báo con sẽ mở mắt lúc hai tuần sau khi sinh, chúng sẽ cai sữa sau 3 tháng tuổi, và phụ thuộc hoàn toàn vào thức ăn báo mẹ mang về. Đến 6 tháng tuổi, báo con sẽ bắt đầu theo mẹ đi săn, và đến thời điểm một hoặc hai năm tuổi chúng sẽ tự rời mẹ và tìm kiếm lãnh thổ mới cho riêng chúng.

Thức ăn và con mồi của Báo đốm

Phần lớn thời gian hoạt động của báo đốm là ở trên mặt đất nhưng chúng cũng tìm con mồi ở trên cây và dưới mặt nước. Các loài động vật cỡ vừa nằm trong danh sách thức ăn chính của báo đốm bao gồm hươu, chuột lang nước, lợn hoang, lợn vòi.
Khi săn mồi dưới nước, báo đốm sẽ săn rùa, cá và cá sấu caiman cỡ nhỏ. Báo đốm được mệnh danh là loài săn mồi đáng gờm với hơn 80 loại con mồi khác nhau. Với các chủ nông trại, báo đốm bị cho rằng đã bắt trộm rất nhiều gia súc, đặc biệt ở khu vực xâm lấn với lãnh thổ của chúng.

Báo đốm săn cá sấu Caiman

Kẻ săn mồi và mối nguy hại đối với Báo đốm

Kích thước to lớn và sự áp đảo trong thiên nhiên, báo đốm không có bất kỳ kẻ thù hoang dã nào, hầu hết các loài đều là con mồi của báo đốm. Khi lục địa châu Mỹ được khám phá ra, con người đã săn bắt báo đốm để lấy lông, dấn đến sự sụt giảm số lượng nghiêm trọng loài báo. Mặc dù hiện tại đã có luật pháp bảo vệ và việc săn trộm cũng đã giảm, nhưng báo đốm đang mất đi môi trường sống tự nhiên do nạn phá rừng và các hoạt động nông nghiệp. Hậu quả, báo đốm bị đẩy xã vào các khu hẻo lánh nhất của lãnh thổ chúng sống.

Những đặc điểm thú vị về Báo đốm

Báo đốm sở hữu lực cắn mạnh mẽ nhất trong tất cả các loài họ mèo lớn, chúng có thể phát ra tiếng gầm lớn. Báo đốm được coi là loài vật có ngoại hình rất đẹp, điều này hấp dẫn các nhà khoa học cũng như đám thợ săn. Báo đốm thông thường có màu lông vàng pha đen, nhưng chúng còn có màu đen. Cũng giống như báo hoa mai màu đen, chúng không hoàn toàn đen hẳn, bạn có thể nhìn thấy các đốm lông khi báo đen xuất hiện ngoài trời nắng. Báo đốm được cho rằng chugns có thể lai tạo được với báo hoa mai và sư tử.

Báo đốm và con người

Trong lịch sử, báo đốm có vai trò quan trọng trong lịch sử văn hóa của người bản địa châu Mỹ, người bản địa luôn tôn trọng sức mạnh áp đảo của loài săn mồi này, một số con tin rằng báo đốm là chúa tể của thế giới ngầm. Nhưng nông dân sống gần lãnh thổ luôn lo sợ báo đốm bắt mất gia súc. Mặc dù báo đốm được mệnh danh là loài hung dữ, có rất hiếm các cuộc tấn công vào con người xảy ra.

Tình trạng bảo tồn Báo đốm

Báo đốm sinh sống trải dài từ cực nam châu Mỹ lên tận vùng biên của Mexico-USA nhưng nạn săn bắt lấy lông và môi trường sống bị mất khiến cho chúng sụt giảm nghiêm trọng số lượng. Số lượng của bảo đốm ở nước Mỹ cực kỳ ít.
Theo IUCN thì báo đốm nằm trong sách đỏ, là loài đang bị đe dọa trong môi trường sống. Mặc dù chưa có số liệu chính thức về số lượng báo đốm, người ta ước tính chúng còn khoảng 15,000 cá thể sống rải rác trong các khu rừng nhiệt đới.

[table id=2 /]

Linh miêu – Lynx

0
Bản đồ phấn bố của loài Linh Miêu
Bản đồ phấn bố của loài Linh Miêu

Linh miêu là một thành viên trong gia đình họ mèo, một trong những loài mèo lớn nhất ở Bắc Mỹ. Lynx được nhận biết qua chiếc đuôi cộc ngắn cũn và chúm lông đen dài ở trên chỏm hai tai.

Trên thế giới tồn tại ba loài linh miêu. Linh miêu ở Bắc Mỹ được tìm thấy ở Canada và Alaska, còn linh miêu Á Âu được tìm thấy ở Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Còn lại loài linh miêu châu Á có mặt ở Trung Á và Thổ Nhĩ Kỳ.

Linh miêu Bắc Mỹ là loài linh miêu có kích thước lớn nhất trong các phân loài kể trên, một số cá thể có bộ lông cực kỳ dày rậm giúp chúng giữ ấm trong mùa đông lạnh giá ở Canada. Linh miêu Á Âu có kích thước nhỏ hơn nhiều, chúng có nhiều đặc điểm giống với mèo nhà.

Linh miêu Canada ở Annie Lake, south of Whitehorse, Yukon. Photo by kdee64 (Keith Williams) 

Linh miêu có xu hướng sống ở vùng đồng cỏ và cây bụi trong các khu rừng ở Bắc Mỹ và Á Âu. Chúng săn các loài động vật nhỏ, chim, và cá, linh miêu có rất ít kẻ thù săn mồi chúng.

Mặc dù linh miêu là loài sống trên mặt đất nhưng chúng cũng thường leo trèo cây và bơi lội dươí nước để bắt mồi. Linh miêu thường săn các loài động vật nhỏ nhưng đôi khi chúng săn cả hươu nai.

Linh miêu có bàn chân to giúp chúng cân bằng cơ thể và tăng thêm sức mạnh khi vồ chụp con mồi. Chúng cực kỳ nhạy bén với âm thanh, giúp chúng không bỏ sót động tĩnh của con mồi dù ở khoảng cách xa. Linh miêu cũng có cơ hàm và bộ răng rất sắc nhọn.

eurasian-lynx Linh miêu Âu Á
Linh miêu Á Âu

Linh miêu thường đi săn một mình, chúng dành phần lớn thời gian để đi săn và nghỉ ngơi. Tuy nhiên, đôi khi chúng cũng tập hợp một nhóm nhỏ để đi săn. Thời điểm giao phối của linh miêu thường vào cuối mùa đông, chúng mang thai 70 ngày và sinh sản từ 2 đến 6 con mỗi lứa. Linh miêu con sẽ ở với mẹ cho đến khi đủ chín tháng tuổi, nghĩa là chúng sẽ được linh miêu mẹ bảo vệ sống sót qua mùa đông đầu tiên. Sau đó linh miêu con sẽ sống tự lập.

Linh miêu thường trú ngụ ở trong hang đá hoặc các hỏm đá che mưa tuyết. Linh miêu thường không mang hẳn con mồi về hang ngoại trừ lúc mang mồi về cho linh miêu con. Mèo con thường thích chơi đùa vật nhau để luyện tập kỹ năng săn mồi.

[table id=2 /]

Những chiến binh mèo hoang dã có thể bạn chưa biết

0
Linh miêu cái. Image: Tambako The Jaguar via Flickr

Những loài mèo lớn như hổ, sư tử, báo hoa mai hay báo đốm là những loài săn mồi có sức mạnh rất đáng gờm, vẻ bề ngoài tuyệt đẹp và cũng rất đáng sợ. Vì vậy cũng rất dễ hiểu khi chúng áp đảo mọi sự chú ý của con người. Ngược lại có những loài mèo nhỏ cỡ vừa ở ngoài hoang dã thường ít được chú ý hơn mặc dù chúng có kỹ năng săn mồi và sự tinh ranh tuyệt đỉnh.

Các loài mèo hoang dã cỡ vừa có cân nặng trong khoảng 5 – 30 kg, chúng ít bị chú ý hơn khi so sánh về chiến thuật săn mồi với các loài mèo lớn.

Những kẻ săn mồi ít được chú ý này lại nằm trong danh sách các loài ăn thịt có kỹ năng nhất trên hành tinh.

1Linh miêu đồng cỏ Châu Phi

Linh miêu đồng cỏ (Leptailurus serval) có lẽ là loài mèo hoang dã trông quen thuộc nhất, chúng có liên hệ mật thiết với loài mèo lai Savannah. Loài mèo có bộ lông khoang khá giống với báo Gê-pa này nặng khoảng 18 kg, đặc điểm dễ nhận biết là các chi khá dài, nếu tính theo tỷ lệ cơ thể có lẽ là dài nhất trong tất cả các loài họ mèo. Chiều cao vai có thể dài tới 66cm. Linh miêu đồng cỏ thường được thấy ở các khu vực đồng cỏ và đầm lầy hạ Sahara Châu Phi, là những nơi chúng tận dụng lợi thế của những đôi chân dài.

Linh miêu đồng cỏ có khả năng hạ gục những con mồi lớn như các loài chim nước hay linh dương nhỏ. Chúng đã phát triển cơ một thủ thuật bắt con mồi ưa thích: loài chuột. Linh miêu đồng cỏ sử dụng đôi tai cực kỳ nhạy bén, tai chúng có thể xoay như những chiếc ra-đa phát hiện mọi loài gặm nhấm ẩn trốn trong đám cỏ. Một khi các định được vị trí con mồi, linh miêu sẽ phóng thân mình lên không trung gần 2 mét bằng cặp chân sau như lò xo. Đôi chân trước được co lại ngang trước ngực, sau đó toàn bộ cơ thể lao xuống đất đồng thời vươn móng vuốt để vồ con chuột, con mồi sẽ bị bất ngờ bởi tốc độ chết người của linh miêu.

2Linh miêu tai đen

Image: Louise Joubert via Wikimedia Commons

Linh miêu tai đen (Caracal caracal) là loài mèo có họ hàng gần nhất với linh miêu đồng cỏ. Chúng có bộ lông màu gỉ sét và sinh sống phân bố khắp châu Phi giống như linh miêu đồng cỏ. Tuy nhiên chúng còn hiện diện ở Tây Á, Trung Đông và Ấn Độ. Với số lượng phân bố gần bằng với linh miêu đồng cỏ. Chúng còn được gọi là linh miêu Ba Tư, dù chúng có chỏm lông đen trên đỉnh tai nhưng linh miêu tai đen có họ hàng gần với các loài mèo rừng sống ở khu vực Ôn Đới.

Không giống như linh miêu đồng cỏ, linh miêu tai đen thường nhút nhát và tránh xa các khu vực đầm lầy ẩm ướt, chúng thích các vùng đất khô ráo để tiên rình mồi.

Tuy nhiên, chúng lại có đặc điểm giống với họ hàng có đốm đó chính là khả năng nhảy vọt thẳng lên cao vồ mồi. Linh miêu tai đen chủ yếu săn các loài gặm nhấm nhỏ như chuột, thỏ, và các loài chim. Chúng thích lao lên đánh chặn khi con mồi bay lên từ dưới mặt đất.

3Báo gấm với vẻ đẹp hút hồn và bộ răng sắc

Nếu bạn từng gặp một con báo gấm ở vùng rừng núi nào đó ở Đông Nam Á, thì có lẽ bạn là người cực kỳ may mắn. Báo gấm nặng khoảng 11-25 kg, chúng nằm trong những loài vật bí ẩn và ít được biết đến nhất trong họ nhà mèo. Loài báo gấm hiện nay được chia làm hai phân loài riêng biệt, một loài ở trong đất liền đó sinh sống ở khắp dãy Himalaya, Nam Trung Quốc, Myanmar, Malaysia, và phân loài thứ hai là báo gấm Sunda ở quần đảo Sumatra và Borneo.

Loài báo với vẻ ngoài bí ẩn tuyệt đẹp này là một trong những chiến binh mèo hoang dã cóp khả năng leo trèo giỏi nhất. Chúng dành phần lớn thời gian ẩn náu trên các nhánh cây của các khu rừng nhiệt đới vào ban đêm để tuần tra con mồi. Mục tiêu của chúng là những loài động vật sống trên cây như khỉ, vượn hay tê tê, tuy nhiên báo gấm cũng săn cả hươu nhỏ.

Báo gấm sunda
Báo gấm sunda

Báo gấm sở hữu hàm răng dài nhất trong tất cả các loài mèo thời hiện đại. Ở trong môi trường sống, việc có một hàm răng dài giúp chúng có nhiều lợi thế khi giữ chặt con mồi hay chiến đấu

4Linh miêu: Những bóng ma trong các khu rừng bạch dương

eurasian-lynx Linh miêu Âu Á

Có lẽ trong bốn loài linh miêu đang tồn tại, thì linh miêu Á-Âu là loài linh miêu có kích thước lớn nhất, và có lẽ chúng cũng có thân hình ấn tượng nhất. Trong số các loài mèo hoang dã cỡ vừa nêu trên thì linh miêu Á-Âu có kích thước lớn nhất, chúng nặng khoảng 27 kg, một số con đực có thể nặng tới 45 kg, trên cả tiêu chuẩn mèo cỡ vừa.

Linh miêu Á-Âu thường lang thang trong khu rừng lạnh giá rộng lớn ở phía Đông Bắc Châu Âu, nước Nga và Trung Quốc. Cũng giống như loài linh miêu họ hàng ở Bắc Mỹ, linh miêu Á-Âu rất khó phát hiện và quan sát, chúng hoạt săn mồi bí mật trong một vùng lãnh thổ rừng gỗ rộng lớn, nơi mà con người ít đặt chân tới. Linh miêu sử dụng kỹ thuật đi trong tuyết bằng những chiếc chân bao phủ bởi lông dày và bành to, giống như những chiếc giày đi tuyết khiến cơ thể chúng không bị chìm xuống lớp tuyết dày.

Loài mèo này có một kỹ thuật săn mồi tuyệt vời, chúng săn bất cứ thứ gì có trong lãnh thổ lạnh giá. Chúng xơi rất nhiều loài như thỏ, chuột, chồn và các loài gà rừng. Nhưng chúng còn rình rập săn lợn rừng, nai sừng tấm non, và hươu nhỏ. Linh miêu Á Âu là loài linh miêu duy nhất săn các loài thú có móng, một đặc điểm thuộc về các loài mèo lớn. Từng ghi nhận linh miêu Á Âu hạ gục một con nai sừng tấm nặng 200 kg.

5Mèo cá: Vị vua của đầm lầy

Mèo Cá - Fishing Cat
Mèo Cá – Fishing Cat

Không giôngd như mèo nhà, Mèo cá (Prionailurus viverrinus) là loài mèo rất thành thạo bơi lội dưới nước, chúng rất phù hợp để sống ở vùng đầm lầy, ở khắp Ấn Độ và Đông Nam Á.

Mèo cá rất khác biệt với các loài mèo khác, chúng sốn chủ yếu về đêm, nặng từ 6 – 13 kg, chúng có đôi mắt hẹp về chiều ngang, cơ cổ ngắn nhưng chắc chắn. Đuôi mèo cá cũng rất ngắn giống như linh miêu.

Chúng thích nghi tốt ở vùng đầm lầy bởi nhiều điểm. Chân mèo cá có màng dính các ngón lại với nhau, cơ thể và bộ lông chống nước rất tốt. Ngực nằm sâu và thân hình cơ bắp chắc chắn giúp chúng thoải mái bơi lội dưới nước.

Chúng là những chuyên gia săn cá, bao gồm cả ếch nhái và động vật lưỡng cư. Sở thích của mèo cá là lặn sâu xuống nước để bắt mồi, chúng tóm gọn cá bằng những chiếc móng vuốt sắc.

Các loài mèo hoang dã cỡ vừa đều đứng đầu và đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái mà chúng sống, chúng có kích thước không quá nhỏ để các loài săn mồi khác áp đảo, chugns cũng không quá lớn để cạnh tranh với các loài mèo lớn như sư tử hay báo đốm. Có rất nhiều loài mèo cỡ vừa như linh miêu hay linh miêu tai đen rất linh động và hoạt động trong lãnh thổ rộng lớn để kiếm con mồi. Sự linh hoạt của chúng rất đáng được ngưỡng mộ và chú ý tới.

Tìm Hiểu Về Loài Vẹt Dracula

0
By Greg HumeOwn work, CC BY-SA 3.0

Tìm hiểu về loài vẹt có vẻ bề ngoài rất ngàu, chúng thường được gọi với cái tên Vẹt Dracula (Vẹt ma cà rồng).

Vẹt kền kền, thường được gọi là vẹt dracula, chúng là loài chim đặc hữu sống ở vùng rừng đồi núi ở New Guinea. Với bộ lông đen pha đỏ, vẹt dracula có vẻ ngoài khá giống với loài kền kền, chúng cực kỳ ấn tượng.

By Peter TanPesquet’s Parrot Uploaded by Snowmanradio, CC BY-SA 2.0

Tuy có tên gọi độc đáo và vẻ bề ngoài giống kền kền, nhưng vẹt dracula không hề khát máu. Khẩu phần ăn hằng ngày của chúng chỉ là các loại quả họ cây sung, chính vì chế độ ăn chuyên biệt như vậy dẫn đến chúng rất dễ bị tổn thương do môi trường khan hiếm thức ăn. Chúng không hề nguy hiểm như vẻ bề ngoài mà mọi người đang gán ghép cho chúng.

Vậy loài chim nào thực sự được gán ghép với quỷ hút máu ma cà rồng, đó chính là loài chim sẻ ma cà rồng.

Ở trên quần đảo Galápagos, lài chim này rất nổi tiếng, chúng là ví dụ điển hình cho Thuyết Tiến Hóa của Darwin. Trong 15 loài chim sẻ có mặt trên quần đảo, chỉ có duy nhất một loài tiến hóa cở thể chỉ đề hút máu các loài chim khác. Chim sẻ ma cà rồng thuộc phân loài chim Geospiza difficilis.

Chim sẻ ma cà rồng thường trông không khác mấy với các loài chim họ sẻ. Thức ăn của chúng chủ yếu là các loại hạt, dộng vật không xương sống và mật hoa ở ngay trên quần đảo Galápagos

Nhưng bởi vì chúng thiếu nước uống khi sinh sống trên quần đảo khô này, sẻ ma cà rồng phải tìm kiếm nguồn nước ngọt bằng cách khác. Vì vậy chúng chọn các loài chim, đặc biệt là các loài chim lớn, như chim điên Nazcas và chim chân xanh boobies, chúng sẽ mổ rách da nơi cánh và đuôi nạn nhân để uống máu bên trong.

Ngoài ra còn có một loài chim khác cũng được mệnh danh khát máu…

Image: Christian Mehlführer/ Wikimedia Commons

Đó chính là loài vẹt Kea, loài chim thú vị này là một trong 10 loài vẹt đặc hữu ở New Zealand, chúng chỉ được tìm thấy duy nhất tại các dãy núi ở đảo South Island.

Với chiếc mỏ dài và cong, chúng có thể móc rách da của cừu để hút chất béo bên dưới da. Đôi khi, hành vi nguy hiểm này cũng giết luôn cả con cừu.

Vẹt Kea là loài săn tạp, vì vậy loài cừu không phải là con mồi của chúng. Ngoài máu cừu và các loài động vật có vú, chúng còn ăn hạt của hơn 40 loài cây, côn trùng và rác thải từ con người. Chúng còn có một hành vi khá rợn khác, khi chúng nghe thấy tiếng chim non kêu ở đâu đó trong tổ, chúng sẽ lập tức bay tới và cắn xé nếu chim bố mẹ không có mặt ở đó.

Bài viết mới