Home Blog Page 11

Loài sinh vật dễ thương nhất thế giới, Aardwolf

0

 

Các bạn có thể đã biết đến các loài chó sói, bạn đã bao giờ bạn nghe đến loài chó sói đất chưa

The aardwolf is very real and incredibly cute!

The aardwolf  is actually not a wolf at all.

aardwolf

They are more closely related to hyenas family.

aardwolf

These adorable little guys eat mainly small insects like termites.

aardwolf

When they are full grown they are about the size of a fox.aardwolf

Scientists used to think of them as solitary creatures, but they are very family oriented.

aardwolf

They are very family oriented, two parents and their young.

aardwolf

They are shy and nocturnal, sleeping in burrows during the day.

aardwolf

Aardwolves communicate with each other by creating noises called chirps.

aardwolf

You wouldn’t know it looking at them, but they’ve got a fierce howl and a scary bark to intimidate predators.

aardwolf

They are fierce fighters when need to be.

aardwolf

Unfortunately they are not very fast runners.

aardwolf

But they are so adorably cute!

aardwolf

And just look at those ears!

aardwolf

In some areas in Eastern Africa, Aardwolves are persecuted by farmers who mistakenly believe that they prey on livestock.

aardwolf

These gentle creatures are actually benefit farmers because they eat termites that are detrimental to crops.

aardwolf

Aardwolves may be slow moving, but who cares about speed when  they are so cute! They may be the most adorable creatures most people don’t know even exist.

We hope you enjoyed learning about this little guys as we have and share them with your loved ones and fellow animal lovers.
If you know someone who might like this, please click “Share!”

Ngắm họ hàng cây ăn thịt nắp ấm vòng quanh thế giới

0
Cây ?n th?t n?p ?m ? trên th? gi?i

Bộ sưu tập hình ảnh các loài cây ăn thịt nắp ấm ở trên khắp thế giới.

Cây ăn thịt - Pitcher plant

Cây ăn thịt - Pitcher plant

Cây ăn thịt - Pitcher plant

Cây ăn thịt - Pitcher plant

Cây ăn thịt - Pitcher plant

Cây ăn thịt - Pitcher plant

Cây ăn thịt - Pitcher plant

Cây ăn thịt - Pitcher plant

Cây ăn thịt - Pitcher plant

Cây ăn thịt - Pitcher plant

Cây ăn thịt - Pitcher plant

Cây ăn thịt - Pitcher plant

Cây ăn thịt - Pitcher plant

Cây ăn thịt - Pitcher plant

Cây ăn thịt - Pitcher plant

Cây ăn thịt - Pitcher plant

Cây ăn thịt - Pitcher plant

Cây ăn thịt - Pitcher plant

Cây ăn thịt - Pitcher plant

 

Vẻ đẹp của Linh miêu đồng cỏ châu Phi

0
Linh miêu ??ng c? - Serval

Linh miêu đồng cỏ châu Phi, với tên tiếng Anh là Serval /ˈsɜrvəl/ hay tierboskat, là một loài mèo hoang dã phân bố tại châu Phi.

Linh miêu đồng cỏ - Serval

Đây là thành viên độc nhất thuộc chi Leptailurus và được nhà tự nhiên học người Đức Johann Christian Daniel von Schreber mô tả lần đầu năm 1776. Có tới 18 phân loài linh miêu đồng cỏ được xác lập. Linh miêu đồng cỏ có thân hình mảnh dẻ, kích thước trung bình, khi đứng bờ vai cao 54–62 cm và cân nặng 9–18 kg. Chúng có đặc điểm là đầu nhỏ, đôi tai lớn, lớp lông ngoài có màu từ vàng kim đến vàng sẫm với đốm và sọc đen, chiếc đuôi ngắn có ngọn đen. Linh miêu đồng cỏ có chân dài nhất so với bất kỳ loài mèo tương đồng kích thước cơ thể.

Miêu tả ngắn gọn về loài

Linh miêu đồng cỏ là một loài mèo cỡ trung bình, có dáng vẻ thanh mảnh, với đôi chân dài và một cái đuôi khá ngắn. Chiều dài đầu thân 59–92 cm, chiều dài đuôi 20–45 cm, và chiều cao vai 54–66 cm. Trọng lượng khoảng từ 7 đến 12 kg ở con cái, và từ 9 đến 18 kg với con đực.

Linh miêu đồng cỏ - Serval

Phân bố

Linh miêu đồng cỏ châu Phi phân bố ở châu Phi, chủ yếu là phía nam của sa mạc Sahara, và một số ít ở bắc Phi.

Môi trường sống chính của chúng là thảo nguyên, mặc dù có thể có ở các khu vực miền núi ở độ cao lên đến 3.000 m.

Chúng cần nguồn nước trong phạm vi lãnh thổ của mình, do đó, chúng không sống trong bán sa mạc hay thảo nguyên khô.

Chúng cũng tránh các khu rừng rậm xích đạo, mặc dù có thể thấy chúng dọc theo ven rừng.

Chúng hiếm khi leo trèo và bơi lội, mặc dù chúng có thể. Lãnh thổ của con cái khoảng 9,5-19,8 km2, và của con đực 11,6-31,5 km2.

Linh miêu đồng cỏ - Serval

Lối sống

Giống như hầu hết mèo, linh miêu đồng cỏ sống đơn độc và săn mồi chủ yếu vào ban đêm. Mặc dù chúng thường săn bắt động vật gặm nhấm, chúng cũng ăn các loài chim, thỏ rừng, chuột lang hyrax, bò sát, côn trùng, cá và ếch. Chúng cũng có thể bắt các động vật lớn hơn, chẳng hạn như hươu, linh dương, mặc dù hơn 90% của con mồi của chúng nặng dưới 200 g.

Linh miêu đồng cỏ có thể di chuyển 3–4 km mỗi đêm để tìm thức ăn. Đôi chân dài (dài nhất của tất cả loài mèo cùng kích thước cơ thể) thể hiện sự thích nghi của chúng với lối sống thảo nguyên, giúp chúng đạt được tốc độ tối đa 80 km mỗi giờ, và đôi tai lớn với thính giác rất tốt cho phép chúng phát hiện con mồi, ngay cả trong lòng đất. Chúng có thể nhảy cao 2–3 m để bắt chim đang bay. Chúng có thể nhảy xa tới 3,6 m. Chúng là loài săn mồi hiệu quả, với tỷ lệ thành công lên tới 50%.

Linh mieu dong co - Serval

Sinh sản

Linh miêu đồng cỏ có chu kỳ động dục kéo dài đến bốn ngày, và thường vào thời gian để mèo con sẽ được sinh ra ngay trước thời kỳ sinh sản cao điểm của quần thể động vật gặm nhấm địa phương. Chúng có thể sinh nhiều lứa trong năm, nhưng thường chỉ khi lứa trước đó chết ngay sau khi sinh. Chu kỳ mang thai kéo dài 66-77 ngày và thường cho ra đời hai mèo con, mặc dù đôi khi có thể nhiều hơn.

Mèo con được sinh ra trong thảm thực vật dày đặc hoặc hang của lợn đất bỏ lại. Nếu không chúng có thể sinh con dưới một cây bụi. Mèo con nặng khoảng 250 g lúc mới sinh, và ban đầu chưa mở mắt, với bộ lông màu xám. Chúng mở mắt ra từ 9 đến 13 ngày tuổi, và bắt đầu ăn thức ăn rắn sau khoảng một tháng. Vào khoảng sáu tháng, chúng đã có răng nanh và bắt đầu tập đi săn, và sẽ rời khỏi con mẹ vào khoảng 12 tháng tuổi. Chúng đạt đến trưởng thành từ 12 đến 25 tháng tuổi. Tuổi thọ trung bình của chúng là khoảng 10 năm trong tự nhiên, và lên đến trên 20 năm trong điều kiện nuôi nhốt.

Theo Wiki

Những ngày lễ quốc tế dành cho các loài động vật

0
Ngày l? c?a các loài ??ng v?t

Có thể bạn chưa biết rằng trong một năm 365 ngày thì có rất nhiều ngày lễ quốc tế dành cho các loài động vật.

Rất nhiều người trong số chúng ta có rất ít cơ hội đến gần và ngắm nhìn các loài vật trong tự nhiên, vì vậy các nhà hoạt động và những tổ chức về động vật đã đặt ra các ngày lễ mừng dành cho từng loài vật cụ thể để mọi người chú ý hơn về thiên nhiên và các loài vật trên trái đất cũng như nâng cao ý thức bảo vệ môi trường.

Tháng Một

  • Ngày quốc tế Ngựa Vằn 31/01

Ngày quốc tế ngựa vằn 31/01

Tháng Hai

  • Ngày Cá Voi thế giới (World Whale Day):18/02
  • Ngày quốc tế Tê Tê (World Pangolin Day): Ngày thứ bảy lần thứ ba trong tháng Hai.
  • Ngày quốc tế Gấu Bắc Cực (International Polar Bear Day): 27/02

Tháng Ba

  • Lễ hội quốc tế về loài Cú từ ngày 2 – 4 tháng 3
  • Ngày Sinh giới Hoang dã Thế giới (World Wildlife Day): 03/03
  • Ngày quốc tế về Hải Cẩu (International Day of the Seal) : 22/0

Tháng Tư

  • Tuần lễ giải phóng động vật thí nghiệm Thế giới (Tuần lễ được tính theo mốc ngày 24/04 hàng năm)
  • Ngày quốc tế loài Chuột (World Rat Day): 04/04
  • Ngày quốc tế Hải Ly (International Beaver Day): 07/04
  • Ngày quốc tế Chim Cánh Cụt(World Penguin Day): 25/04

Ngày quốc tế chim cánh cụt

Tháng Năm

  • Ngày quốc tế chim di cư (World Migratory Bird Day) 12 – 13 tháng 5
  • Ngày Cá Hồi thế giới 02/05
  • Ngày Koala thế giới 03/05
  • Ngày loài Rùa thế giới 23/05 Ngày Quốc Tế Loài Rùa

Tháng Sáu

  • Ngày Rùa biển thế giới 14/06

Ngày Rùa biển thế giới

Tháng Bảy

  • Ngày loài Rắn thế giới 16/07
  • Ngày quốc tế loài Hổ 29/07R

Ngày Quốc Tế Loài Hổ

Tháng Tám

  • Ngày Voi thế giới 12/08
  • Ngày Thằn Lằn thế giới 14/08
  • Ngày loài Muỗi thế giới 20/08
  • Ngày quốc tế Cá Mập Voi 30/08

Ngày quốc tế loài Voi

Tháng Chín

  • Ngày quốc tế Gấu trúc đỏ – Ngày thứ bảy lần thứ ba của tháng 9
  • Ngày Tê Giác thế giới 22/09
  • Ngày quốc tế loài Thỏ 22/09
  • Ngày Gorilla thế giới 24/09

Ngày Gorilla Thế GIới 24/09

Tháng Mười

  • Tháng 10 là Tháng Động Vật thế giới. Ngày kỷ niệm chính thức là 04/10
  • Ngày quốc tế loài Lười 20/10

Tháng vì động vật thế giới

Tháng Mười Một

Tháng Mười Hai

  • Ngày quốc tế báo đốm Cheetah 04/12
  • Ngày bảo tồn động vật hoang dã thế giới 04/12

Ngày Quốc Tế Báo Đốm Cheetah
0
Ngày lễ kỷ niệm đã được cập nhật trên trang này.

Trên đây là danh sách các ngày lễ, tuần lễ quốc tế dành riêng cho từng loài động vật cụ thể ngoài tự nhiên (danh sách sẽ được cập nhật liên tục). Các bạn có thể gợi ý ngày lễ dành cho các loài động vật cho chúng tôi bằng cách bình luận ở dưới bài.

Những loài động vật kỳ lạ có thật ngỡ như nhân tạo

0
Loài v?t k? l?

1.Loài Tenrec sọc

Với tên khoa học là Hemicentetes semispinosus. Loài này chỉ sinh sống ở một nơi duy nhất là đảo Madagascar.

Lowland Streaked Tenrec

Lowland Streaked Tenrec

2. Chồn bay Sunda

Sunda Flying Lemur

Chồn bay Sunda, tại Việt Nam gọi đơn giản là chồn bay còn biết đến như là chồn bay Malaya, vượn cáo bay Colugo là một loài chồn bay (Cynocephalidae), bộ Dermoptera. Loài này được Audebert mô tả năm 1799. Cho tới gần đây, nó được coi là một trong hai loài chồn bay còn sinh tồn, loài kia là chồn bay Philippine (Cynocephalus volans) chỉ tìm thấy trên các đảo miền nam Philippines. Chồn bay Sunda được tìm thấy kghắp trong khu vực Đông Nam Á, tại Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Campuchia, Việt Nam và Singapore.

Cho tới gần đây, các nhà khoa học đã công nhận hai loài chồn bay nhưng các nhà nghiên cứu khi phân tích các vật liệu di truyền thu được từ chồn bay Sunda sinh sống trên bán đảo Mã Lai cùng hai đảo Borneo và Java đã phát hiện thấy các khác biệt di truyền lớn tới mức đủ để đề xuất rằng chồn bay sinh sống trên mỗi đảo đã tiến hóa thành các loài khác biệt. Các loài chồn bay mới theo đề xuất này nhìn cũng hơi khác biệt. Chẳng hạn, chồn bay trên đảo Borneo nhỏ hơn chồn bay trên đảo Java và tại phần đại lục. Chồn bay Borneo cũng có các biến đổi rộng hơn so với các họ hàng của chúng ở màu bộ lông, bao gồm một số con với các đốm và những con khác với màu sắc bộ lông sẫm màu hoàn toàn.

Các loài chồn bay là họ hàng còn sinh tồn gần gũi nhất của linh trưởng, đã rẽ nhánh ra khỏi nhau khoảng 86 triệu năm trước trong Hậu Phấn trắng. Các nghiên cứu phát sinh loài phân tử đã chứng minh rằng linh trưởng, chuột chù cây và chồn bay là các họ hàng gần, tạo thành một nhóm tiến hóa riêng lẻ có thể truy ngược lại cùng một tổ tiên chung.

Sunda Flying Lemur

Chồn bay Sunda trên thực tế không bay được. Thay vì thế, nó lượn và chuyền giữa các cây. Nó là loài động vật sinh sống trên cây, và hoạt động tích cực về đêm, ăn các loại thức ăn thực vật mềm như lá non, chồi, hoa và quả. Sau chu kỳ mang thai 60 ngày, một con non được sinh ra và được con mẹ mang theo trên bụng mẹ nó trong một màng da lớn. Nó là loài động vật sống phụ thuộc vào rừng.

Chiều dài đầu-thân của chồn bay Sunda là khoảng 34–38 cm. Đuôi của nó dài khoảng 24–25 cm và cân nặng 0,9-1,3 kg.

Chồn bay Sunda được luật pháp nhiều quốc gia bảo vệ. Việc săn bắn để lấy thịt cả người dân địa phương là mối đe dọa lớn nhất đối với loài này. Bên cạnh đó, sự tàn phá rừng và mất môi trường sống cũng gây ra sự suy giảm quần thể của chúng. Ngoài ra, sự cạnh tranh xảy ra với sóc ba màu (Callosciurus notatus) cũng là một đe dọa với chồn bay Sunda.

3. Loài Okapi – Hươu đùi vằn

Okapi

Okapi là một loài động vật có vú guốc chẵn bản địa miền đông bắc Cộng hòa Dân chủ Congo, Trung Phi. Dù những sọc quanh đùi của hươu đùi vằn na ná với của ngựa vằn, họ hàng gần nhất của chúng là hươu cao cổ. Hươu đùi vằn khi đứng cao chừng 1,5 m tính tới vai và có chiều dài cơ thể trung bình là 2,5 m. Cân nặng là từ 200 đến 350 kg. Nó có cổ dài và tai lớn, linh hoạt. Bộ lông thân có màu từ đen bóng đến nâu đỏ, tương phải với những sọc ngang trắng trên đùi và cẳng chân. Hươu đùi vằn đực có hai phần lồi giống sừng phủ lông trên đầu, gọi là ossicone, dài chưa tới 15 cm. Con cái có xoáy lông, thiếu ossicone, và trung bình cao hơn con đực 4,2 cm.

Hươu đùi vằn hoạt động chủ yếu về ban ngày. Chúng sống một mình, và đến gần nhau chỉ để giao phối. Chúng ăn thực vật, gồm lá và búp cây, cỏ, dương sĩ, trái cây, và cả nấm. Sự động dục ở con đực và sự chịu đực của con cái không xảy ra tùy theo mùa. Theo nuôi nhốt, chu kỳ động dục diễn ra mỗi 15 ngày. Thai kỳ là từ 440 đến 450 ngày, và thường chỉ một con non được sinh ra. Con non bắt đầu ăn thức ăn đặc khi ba tháng tuổi, và thôi sửa khi sáu tháng tuổi.

Okapi

Hươu đùi vằn sống ở rừng tán ở độ cao 500–1.500 m. Đây là loài đặc hữu của CHDC Congo. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) coi hươu đùi vằn là một loài nguy cấp. Những mối đe dọa chính là sự mất môi trường sống do khai thác gỗ và sự định cư của con người. Sự săn bắn để lấy thịt và da cùng khai thác mỏ trái phép cũng dẫn đến sự suy giảm số lượng. Dự án bảo vệ hươu đùi vằn đã được thiết lập năm 1987 để bảo vệ loài này.

4. Linh dương Bongo

Bongo

Linh dương Bongo là một loài linh dương thuộc họ Bovidae, bộ Artiodactyla. Loài này được Ogilby mô tả năm 1836. Đây là loại linh dương sống ở các khu rừng châu Phi. Nó có một màu lông độc đáo, thích nghi với môi trường rừng nó sinh sống. Con đực cân nặng giữa 250 và 450 kg và con cái nặng từ 210 và 240 kg. Cơ thể dài 1,70-2,50 m, với chiều cao phía sau 1,25 m.

5. Vịt Uyên Ương

Kích thước chiều dài của nó là 41–49 cm và sải cánh dài 65–75 cm. Con trống (còn gọi là uyên) có bộ lông sặc sỡ khó nhầm lẫn. Nó có mỏ đỏ, vệt lông hình lưỡi liềm lớn màu trắng phía trên mắt và mặt đỏ cùng “ria”. Ngực màu tía với hai sọc trắng theo chiều dọc, hai hông hung hung đỏ, với hai cụm lông giống như hai lá buồm màu da cam ở lưng. Con mái (còn gọi là ương) trông tương tự như con mái của vịt Carolina, với vành khuyên màu trắng quanh mắt và sọc chạy ngược về phía sau từ mắt, nhưng nhạt dần, nó có sọc nhỏ màu trắng bên hông và đầu mỏ nhạt màu.

Mandarin Duck

 

Tại sao báo cheetah có đốm trên lông?

0
báo cheetah

Báo cheetah có đốm trên lông bao phủ gần như toàn bộ cơ thể của chúng. Bộ lông này có tác dụng ngụy trang rất tốt, dễ dàng hòa lẫn vào màu tối và xám của đám cây cỏ xung quanh môi trường sống của chúng. Bộ lông ngụy trang là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của cuộc đi săn, ngoài ra đốm trên lông còn bảo vệ chúng khỏi các kẻ săn mồi khác phát hiện.

Cũng giống như vân tay của con người, cheetah có các chấm đốm trên thân và đuôi là độc nhất, không con nào giống con nào.

Bạn có biết loài nào động vật trên mặt đất nào có tốc độ chạy nhanh nhất không?

Câu trả lời là không loài nào khác ngoài báo cheetah, với khả năng tăng tốc từ 0 đến 45 dặm/giờ chỉ trong 2,5 giây, cheetah được sinh ra như chỉ để làm vua tốc độ. Chúng xứng đáng với danh hiệu là loài động vật có vú trên cạn nhanh nhất thế giới, chúng có thể vút lên tới 60 – 70 dặm một giờ.

Đàn báo đốm châu phi

Báo cheetah sống ở đâu?

Trong vòng 50 năm qua, báo cheetah đã bị tuyệt chủng ở ít nhất 13 đất nước, ngày nay chúng sinh sống phổ biến ở Kenya và Tanzania phía đông châu phi, Namibia và Botswana ở phía nam châu phi. Ở Namibia, chúng sống ở một khu vực rộng lớn với vùng đòng cỏ, xa van, vùng có thảm thực vật dày và khu vực địa hình đồi núi.

Báo cheetah săn mồi như thế nào?

Không giống như các loài thuộc họ nhà mèo khác thường săn mồi vào ban đêm, báo cheetah thường ăn mồi vào lúc sáng sớm và vào buổi chiều muộn. Chúng dựa rất nhiều vào thị giác để đi săn, chúng có thể đứng trên cao quét mắt trải dài khắp vùng đồng cỏ.

Một khi báo cheetah phát hiện ra con mồi, chúng trườn nhẹ tiếp cận ở khoảng cách gần trước khi bắt đầu chạy nước rút để bắt mồi. Nếu cheetah bắt mồi thành công, nó sẽ kẹp chặt cổ của con mồi ngăn khí quản hoạt động, cấu tạo hàm của báo cheetah giống như gọng kìm ghim chặt con mồi.

Báo cheetah ăn gì?

Chúng là loài động vật ăn thịt chuyên ăn các loài linh dương nhỏ bao gồm các loài như springbok, steenbok, duikers, impala và gazelles,  con non của các loài động vật to lớn hơn chúng như lợn lòi, linh dương vằn kudu, linh dương hartebeest, dê rừng oryx, chồn sable. Báo cheetah còn săn các loài chim và thỏ.

Báo cheetah thường ăn con mồi nhanh chóng để tránh khỏi các loài khác như sư tử hay linh cẩu tranh cướp mất con mồi, thậm chí một nhóm kền kền cũng có khả năng cướp mồi của chúng.

Trên thế giới còn lại bao nhiêu báo cheetah?

Các nhà nghiên cứu đã ước tính rằng loài báo đốm cheetah đã biến mất khỏi 89% phạm vi sinh sống tự nhiên của chúng trên khắp châu Phi, còn khoảng 7500 đến 10000 con còn tồn tại trong tự nhiên.

Tại sao báo cheetah lại chay nhanh nhất thế giới?

Ngoài việc báo cheetah có một bộ xượng nhẹ nhàng và có sự sắp xếp vô cùng hợp lý, cùng với nhiều kết hợp hoàn hảo khác giúp cheetah chạy với tốc độ siêu nhanh. Lớp đệm chân đặc biệt và móng vuốt có thể thu vào, cung cấp một lực kéo lớn, trong khi lỗ mũi và buồng phổi cung cấp nhanh dưỡng khí, do đó, cheetah có thể dễ dàng thở trong khi chạy

Xương dọc vai không gắn vào xương đòn của cheetah, cũng như xương hông xoay trên cột sống một cách linh hoạt giúp kéo dài sức rướn của báo và giúp tăng tốc vượt trội.

Xương sống của cheetah hoạt động như một chiếc lò xo hỗ trợ hai chân sau mạnh mẽ của nó, mở rộng tầm rướn từng bước một. Chiếc đuôi hoạt động như một bánh lái giúp báo cân bằng cơ thể trong khi chạy.

Chim Công – Đặc Điểm, Nơi Sống, Giao Phối Và Sinh Sản

0
loài chim công s?ng ? ?âu?

Loài Công sống ở khu vực rừng rậm, dày đặc nơi chúng ngủ trên cây và tụ tập lại với nhau trong đàn. Có hai loài công dễ nhận biết nhất là công xanh nước biển (blue peacock) thường sống ở Sri Lanka và công xanh màu lá sống ở Myanmar và các quần đảo Java ở Indonesia. Còn một loài công khác sống ở rừng rậm châu Phi đó chính là công Congo.

Từ “peacock” (con công trong tiếng Anh) thường được gọi riêng cho chim công đực và từ “peahen” cho chim cái.

Loài công còn sống ở đâu khác?

Chim công còn phổ biến ở Pakistan, Bhutan, Nepal, Autralia, New Zealand, Florida và Bahamas. Có rất nhiều loài công đã được thuần hóa trong hàng thế kỷ, bạn có thể tìm thấy chúng trong các sở thú ở khắp nơi trên thế giới. Loài chim công được biết đến với bộ lông sắc sỡ bảy sắc cầu vồng, nổi bật với màu xanh lá và xanh da trời, việc lai tạo và nhân giống công thuần hóa đã tạo ra rất nhiều loài công có kết hợp màu sắc độc đáo.

Chim công sống trong môi trường tự nhiên thường sống rất đoàn kết thành từng đàn với nhau, chúng thường không hòa hợp với các loài khác và có thể sẵn sàng chiến đấu nếu bị khiêu khích.

Trong thời kỳ giao phối và sinh sản, chim công thường chia thành từng nhóm nhỏ bao gồm vài chim cái và một chim công đực duy nhất. Mùa giao phối thường xảy ra vào mùa xuân, và chim công đực thường xòe bộ lông sặc sỡ của mình biểu diễn cho chim cái. Khi chim đực xòe lông đồng thời chúng phát ra âm thanh rung động với tần số mà con người và các loài khác khó có thể nghe thấy ngoại trừ chim cái. Khi chim cái nghe thấy âm thanh đấy, nó có thể quyết định xem có nên chọn chim đực này làm bạn tình hay không.

Khi mùa giao phối kết thúc, chim cái tách đàn sống độc lập để sinh nở, chim công đực cũng sống độc lập và ngừng giao tiếp với các chim cái khác. Chim công đực không hề đảm nhiệm việc nuôi chim con của chúng, việc này phụ thuộc hoàn toàn vào chim công mẹ.

Loài công đã thuần hóa sống trong môi trường trang trại hay sân vườn thường bắt chước đặc tính của chim công hoang dã, phù hợp với không gian sống nhiều cây xanh, chúng chỉ thấy thoải mái khi sống trong không gian mà có thể dễ dàng tìm được vị trí ẩn mình.

Trước khi chim công cái đẻ trứng, chúng tạo một chiếc tổ trên mặt đất . Chim cái đẻ trứng và tiến hành ấp cho đến khi trứng nở. Chim công đực được biến đến với bộ lông vũ đầy màu sắc thì chim công cái lại hoàn toàn khác. Chúng cũng có những vệt màu xanh quanh cổ nhưng trên thân của chúng thường có màu nâu nhạt với bụng màu trắng. Sự khác biệt về màu sắc này là để chim công cái có thể ẩn mình hòa vào môi trường xung quanh để tránh kẻ săn mồi trong khi chăm sóc con của chúng.

Đặc điểm nổi bật của chim công

Chim công đực trưởng thành có tổng chiều dài cơ thể khoảng 2,0 – 2,3 mét, trong đó bộ lông đuôi (train) chiếm tới 1,4 – 1,6 mét. Trọng lượng con trống khoảng 4 – 6 kg, trong khi con mái nhỏ hơn, chỉ 2,75 – 4 kg. Trên bộ lông đuôi của chim công đực có khoảng 150 – 170 “mắt công” (ocelli) phân bố trên khoảng 200 lông phủ đuôi.

Điều thú vị là bộ lông rực rỡ của chim công không phải do sắc tố tạo ra, mà nhờ cấu trúc vi tinh thể trên bề mặt lông. Cấu trúc này phản xạ ánh sáng theo nhiều góc khác nhau, tạo nên hiệu ứng ánh kim lấp lánh đặc trưng. Ngoài ra, phần “đuôi” mà chúng ta thường thấy thực chất là lông phủ đuôi trên (upper tail coverts), còn đuôi thật của chim công rất ngắn và nằm ẩn bên dưới.

Chim công có thể chạy với tốc độ lên đến 16 km/h. Mặc dù có thể bay, chúng thường chỉ bay quãng ngắn để lên cây ngủ hoặc thoát khỏi kẻ thù.

Chim công ăn gì?

Chim công là loài ăn tạp. Chúng ăn cả thực vật lẫn động vật, bao gồm hạt, quả, hoa, cỏ non, côn trùng (dế, châu chấu, kiến, mối), nhện, giun đất và cả ếch nhỏ, thằn lằn nhỏ. Đặc biệt, chim công còn ăn được rắn độc nhỏ — đây là lý do chúng được coi là “kẻ thù của rắn” trong văn hóa dân gian nhiều nước châu Á. Nông dân Ấn Độ từ lâu đã nuôi chim công như một loại “chuông báo động tự nhiên” giúp phát hiện rắn và thú dữ nhờ tiếng kêu cảnh báo lớn của chúng.

Chim công kiếm ăn chủ yếu trên mặt đất, dùng chân bới lá mục để tìm côn trùng và giun dế.

Tuổi thọ và kẻ thù tự nhiên

Trong tự nhiên, chim công có tuổi thọ trung bình 15 – 20 năm. Trong điều kiện nuôi nhốt, chúng có thể sống 20 – 25 năm, cá biệt đến 30 năm. Chim công đực trưởng thành hoàn toàn với bộ lông đuôi đầy đủ vào năm thứ 3.

Kẻ thù tự nhiên chính của chim công bao gồm hổ, báo hoa mai, cầy và chó rừng. Trứng và chim non thường bị đe dọa bởi cầy mangut, rắn hổ mang, chim ưng và diều hâu. Để tự bảo vệ, chim công có tập tính ngủ trên cây cao vào ban đêm và phát ra tiếng kêu cảnh báo rất lớn khi phát hiện kẻ thù.

Chim công trong văn hóa

Chim công có vị trí đặc biệt trong văn hóa nhiều quốc gia. Tại Ấn Độ, chim công là quốc điểu từ năm 1963 và gắn liền với thần Krishna (lông công trên đầu) cùng thần Kartikeya (cưỡi công). Tại Myanmar, hình ảnh chim công xuất hiện trên quốc huy và là biểu tượng quốc gia. Ở Trung Quốc, dân tộc Đại (Thái) tại Vân Nam có điệu “Múa Công” nổi tiếng, coi chim công là biểu tượng của vẻ đẹp và may mắn.

Tình trạng bảo tồn

Không phải tất cả các loài công đều an toàn. Theo Sách Đỏ IUCN, công Ấn Độ (Pavo cristatus) được xếp hạng Ít lo ngại (LC), nhưng công xanh (Pavo muticus) đang ở mức Nguy cấp (EN) với quần thể giảm hơn 50% trong 3 thế hệ gần đây. Công Congo (Afropavo congensis) được xếp hạng Sắp nguy cấp (VU).

Tại Việt Nam, công xanh từng phân bố tại Tây Nguyên và Đông Nam Bộ nhưng hiện nay gần như biến mất ngoài tự nhiên. Chỉ còn rất ít cá thể được ghi nhận tại Vườn quốc gia Cát Tiên và Yok Đôn. Nguyên nhân chính là mất sinh cảnh, săn bắn và sử dụng thuốc trừ sâu.

Bài viết mới