Home Blog Page 7

Những khoảnh khắc đẹp khi động vật giao chiến

0

Săn hình những màn tấn công của động vật hoang dã là trải nghiệm được nhiều nhiếp ảnh gia ưa thích.

Nhiếp ảnh gia Keith Szafranski ghi lại cuộc giao chiến giữa 2 con gấu nâu trên sông ở vùng Alaska (Mỹ). Mỗi con gấu này có thể nặng đến hơn 500 kg. Trong tự nhiên, gấu nâu Alaska có xu hướng sống độc lập. Tuy nhiên, chúng thường xuất hiện thành đàn ở những khu vực kiếm ăn như sông, suối… Chúng thích ăn cá hồi, quả mọng, xác động vật và rễ cây. Đôi khi, gấu nâu cũng tìm vào nhà của người dân để kiếm thức ăn. Ảnh: Keith Szafranski.

Cảnh hai “chúa sơn lâm” đánh nhau được nhiếp ảnh gia Piyaphon Phemtaweepon ghi lại chân thực. Trong tự nhiên, hổ vẫn tấn công đồng loại để giành lãnh thổ. Thông thường, một con hổ đực khỏe mạnh có khoảng 10-15 km làm khu vực săn mồi của riêng mình. Nếu lãnh thổ bị con khác xâm lấn, chúng sẽ không ngại tấn công. Các chuyên gia cho biết chuyện hổ săn hổ vẫn xảy ra nhưng đây không phải bản chất của chúng. Ảnh: Piyaphon Phemtaweepon.

Trong ảnh, trận chiến của hai con chim cánh cụt gentoo ở Nam Cực. Theo Pinguins, trước khi tấn công, chim cánh cụt thường phát ra tiếng kêu lớn. Những cuộc chiến giữa các con chim cánh cụt vẫn thường diễn ra. Lý do chủ yếu là bảo vệ tổ, con non. Ảnh: Grafissimo.

Bức ảnh chụp cận đã ghi lại chân thực trận đánh giữa những con kiến lửa và ruồi. Loài kiến thường có thói quen tấn công theo đàn, đẩy đối thủ vào thế khó chống đỡ. Ảnh: Sreekumar Mahadevan Pillai.

Thông thường, kiến lửa chỉ tấn công những con vật nhỏ. Cách tấn công của loài này là cắn và phun axit lên vết thương. Những vết cắn này khiến con mồi đau đớn do bị cả đàn “đánh hội đồng”. Trong ảnh, đàn kiến lửa tấn công một con kiến đen. Ảnh: Niki Garcia.

“Xin đừng giết tôi” là tên bức ảnh của tác giả Gilles Baechler. Ảnh: Gilles Baechler.

Những cú đá hậu uy lực luôn là vũ khí đáng sợ của loài ngựa. Ảnh: Kamal Sharma.

Trận chiến giữa nhện và kiến dưới con mắt của nhiếp ảnh gia Mohd Farid Azhar. Ảnh: EyeEm.

Con rắn đang cuốn chặt lấy con cầy mangut to hơn nó nhiều lần. Cấu trúc hàm đặc biệt giúp rắn có thể nuốt trọn con vật to hơn nó 3-4 lần. Trong tự nhiên, cầy mangut được xem như đối thủ nặng ký với rắn. Ảnh: Getty Images.

Trận đánh trên tuyết giữa hai con chim nutcracker. Bức ảnh được chụp tại núi Vitosha, Bulgaria. Ảnh: James Warwick.

Những con gấu trắng Bắc Cực đực thường đánh nhau vào mùa sinh sản để thu hút sự chú ý với con cái. Chúng cũng đánh nhau vì vấn đề lãnh thổ hoặc tranh chấp con mồi. Tuy có bản tính hung hăng, chúng cũng có lúc chia sẻ đồ ăn với nhau. Theo Polar Bears International, gấu trắng Bắc Cực có cách xin đồ ăn của con khác. Chúng dùng cách chào hỏi “mũi đối mũi” và dần tiếp cận miếng mồi tùy theo độ thiện chí của con đang ăn. Ảnh: Getty Images.

Nguồn: ZingNews

Hải cẩu ruy băng hiếm gặp với bộ lông bắt mắt

0
H?i c?u ruy b?ng
Hải cẩu ruy băng

Một con hải cẩu có lông vằn cực kỳ hiếm có trong tự nhiên, nó được phát hiện ở bờ biển bang Washington, Mỹ.
Đây là loài hải cẩu ruy băng, một loài hải cẩu độc đáo với những dải sọc vằn tuyệt đẹp khắp cơ thể.

Hải cẩu ruy băng thường được tìm thấy ở Bắc Cực và vùng cận Bắc Cực thuộc biển Bắc Thái Bình Dương, đặc biệt là hai vùng biển Bering và biển Okhotsk.

Chúng rất hiếm khi bị con người bắt gặp, bởi vì chúng thường sinh sống ngoài khơi xa nơi có nhiều băng Bắc Cực, và vùng biển cận bắc cực nằm giữa Bắc Mỹ và nước Nga.

Loài hải cẩu này rất hiếm khi mò lên đất liền trừ khi chúng bơi lạc theo dòng nước biển.

Hải cẩu ruy băng
Flickr / Jomilo75

Vẻ bề ngoài của hải cẩu ruy băng dễ dàng nhận biết bởi 4 đường lông trắng: một dải xung quanh cổ, một dải quanh đuôi và hai vòng trắng bao quanh hai bên cơ thể và vây.

Image: Tintu

Loài hải cẩu này đã từng bị săn bắn rất nhiều để lấy lông, khiến số lượng loài bị sụt giảm nghiệm trọng. Tuy nhiên đến năm 1969, chính quyền liên bang Soviet đã ra luật cấm săn bắn loài hải cẩu này, khiến cho số lượng loài được tăng lên.

Đồng thời chính quyền liên bang Mỹ cũng đã nghiên cứu theo dõi sát sao số lượng loài hải cẩu này trong năm 2008, họ đi đến kết luận chúng không phải là loài động vật thuộc hạng mục có nguy cơ tuyệt chủng. Tuy nhiên tranh cãi vẫn đang diễn ra khi chúng chưa được xếp vào loài nguy cấp cần được bảo vệ.

Xem thêm video về loài hải cẩu ruy băng:

Loài cừu mũi đen valais ngộ nghĩnh giống hệt thú nhồi bông

0
C?u m?i ?en Valais
Cừu mũi đen Valais

Chắc hẳn bạn đã từng ngắm nhìn những chú dê con nghịch ngợm đáng yêu, nếu bạn chưa biết về loài cừu mũi đen Valais cũng dễ thương không kém, thậm chí trông chúng rất hài hước vui vẻ.

Cừu mũi đen Valais (Ovis aries) có nguồn gốc từ vùng Valais, Thụy Sĩ. Chúng đặc trưng bởi bộ lông len dày, cặp sừng cong và khuôn mặt có chõm đen siêu dễ thương. Chúng xuất hiện ở nhiều dãy núi của Thụy Sĩ từ những năm 1960. Để thích ứng với điều kiện khí hậu “siêu lạnh” ở nơi đây, cừu mũi đen Valais có bộ lông rất dày. Nhưng không giống với lông của những loài cừu khác, lông của cừu mũi đen Valais không thể dùng để làm vải quần áo.

Nhiều người đã bị “mê hoặc” bởi sự dễ thương của loài cừu này, đến nỗi họ đã bắt đầu nuôi chúng như những thú cưng khác trong nhà. Loài cừu mũi đen rất hiền, dễ gần, dễ thuần hóa và thậm chí chúng rất dễ trở thành những người bạn thân thiết của trẻ con. Chúng không thực sự có bản chất hoang dã như những loài động vật khác.

Dù vậy, ở thời điểm hiện tại, rất khó để sở hữu một em cừu mũi đen thuần chủng. Năm 2016, chính phủ Mỹ bắt đầu lai giống cừu Valais và dòng cừu khác, từ đó xuất hiện thêm nhiều giống cừu không phải là Valais thuần chủng. Tuy nhiên, độ dễ thương và đáng yêu của chúng có vẻ không giảm đi.

Cùng xem trọn gallery ảnh những chú cừu mũi đen vui vẻ này:

Chim Gõ Kiến Đầu Rìu (Hoopoe) – Loài Chim Có Mào Lạ Nhất Thế Giới

0
Chim gõ ki?n ??u rìu
Chim gõ kiến đầu rìu

Bạn có biết rằng họ hàng chim gõ kiến đầu rìu đã từng tồn tại kể từ thời kỳ cổ đại. Hóa thạch cổ nhất của loài chim gõ kiến đầu rìu đã có từ thế Thủy Tân (cách đây 56 – 33 triệu năm), cùng thời kỳ với tổ tiên của các loài động vật có vú khác như ngựa, hươu hay tê giác…v.v.

Chim gõ kiến đầu rìu

Chim gõ kiến đầu rìu có tên tiếng anh là hoopoe (danh pháp khoa học Upupa epops), chúng là loài chim có kích thước nhỏ, nhưng chúng sống phân bố rộng khắp châu Phi, châu Âu và châu Á. Tên tiếng Anh của chim đầu rìu là được biến tấu từ tượng thanh  ‘oop-oop-oop’.  Đặc tính nổi bật của chúng là chiếc mào hình rìu nổi bật, loài chim này đã được coi là quốc điểu của Israel.

Chim gõ kiến đầu rìu
Chim đầu rìu Á Âu, cá thể đực.

Gõ kiến đầu rìu là loài chim có kích thước cỡ vừa, chiều dài cơ thể khoảng 29 cm, sải cánh dài khoảng 46 cm. Tùy thuộc vào từng phân loài trên khắp thế giới, gõ kiến đầu rìu có cân nặng từ 50 – 90 gam. Chim gõ kiến đầu rìu có chiếc mỏ dài màu đen, phần chân mỏ sáng màu. Loài chim này có một dải sọc đen trắng ở cuối hai bên cánh, dải cánh đặc biệt giúp chim có thể bay khỏe và có kiểu bay nhấp nhô giống như loài bướm. Sải cánh giúp chim đầu rìu có thể trèo nhanh lên cao trên thân cây thẳng đứng, điều này giúp chúng trốn tránh các loài chim săn mồi như đại bàng hay diều hâu. Một điều kỳ lạ là chiếc mào của chim gõ kiến đầu rìu có đúng chính xác 28 chiếc lông (thông tin cần kiểm chứng thêm)

Chim gõ kiến đầu rìu sống ở đâu?

Chim gõ kiến đầu rìu

Có rất nhiều phân loài chim gõ kiến đầu rìu sinh sống ở khắp châu Âu, châu Á, châu Phi và Madagascar. Loài chim này đôi lúc cũng được bắt gặp ở Alaska. Chúng thích sống ở nơi có thảm thực vật thưa thớt, nơi chúng có thể dễ dàng bắt mồi và tìm kiếm thức ăn ở trên mặt đất. Chúng cũng thích nơi có vách đất dựng đứng hay các bức tường, thân cây để để xây tổ. Loài gõ kiến đầu rìu ở Madagascar là phân loài sống trong rừng rậm.

Chim gõ kiến đầu rìu châu Âu thường di cư lên phía bắc như ở miền nam nước Anh để sinh sản trong mùa hè, lý do là những nơi này sẽ có rất nhiều côn trùng và thức ăn để nuôi con. Chim gõ kiến đầu rìu cũng di cư vào mùa mưa như ở Sri Lanka và Ấn Độ. Một số phân loài cũng được thấy ở Himalaya ở độ cao trên 6000-7000 mét so với mực nước biển.

Cách thức chim gõ kiến đầu rìu giao tiếp với đồng loại

Tiếng kêu chính của chim gõ kiến đầu rìu là 3 âm tiết giống nhau “úp úp úp”.  Khi phát hiện kẻ thù hoặc muốn cảnh báo, chúng sẽ dang cánh và căng mào lên. Chim cái được biết có tiếng kêu khò khè khi chúng thực hiện nghi thức giao phối. Chim non sẽ kêu với âm thanh ‘tiiiii’ khi đòi ăn.

Chim gõ kiến đầu rìu ăn gì?

Chim gõ kiến đầu rìu
Chim gõ kiến đang ăn một con rết

Thức ăn chính của chúng là các loài côn trùng.  Chúng cũng thường ăn các loài bò sát nhỏ, lưỡng cư hay các loại quả dại nhỏ. Trong mùa hè, gõ kiến đầu rìu sẽ bắt các loài côn trùng đang bay. Hầu hét thời gian kiếm thức ăn của chúng là ở trên mặt đất, bằng cách dùng chiếc mỏ dài để bắt giun dế, kiến và ấu trùng. Chúng có chiếc mỏ rất khỏe để moi thức ăn dưới những hòn đá lớn, móc vỡ vỏ cây, hay dọn sạch lá dưới nền đất để kiếm thức ăn. Nếu con mồi có kích thước lớn chúng sẽ dùng mỏ quật con mồi vào cây hoặc đá để làm mềm trước khi nuốt.

Sinh sản

Gõ kiến đầu rìu thường kêu lên để tìm bạn tình. Loài chim này chỉ sống chung thủy theo mùa giao phối và chăm con. Chúng có tính lãnh thổ cao khi bảo vệ tổ, chúng sẽ chiến đấu quyết liệt nếu có kẻ xâm nhập chấp nhận bị trọng thương. Cặp chim đầu rìu sẽ đục một lỗ và lối vào nhỏ trên thân cây, chim mái sẽ để khoảng 10 -12 trứng màu xanh nhạt. Chim mái ấp trứng trong vòng 2-3 tuần thì trứng nở, chim trống đảm nhận nhiệm vụ tìm thức ăn. Khi chim non đủ lớn sau vài tháng chúng sống sẽ tự lập.

Để bảo vệ tổ khỏi kẻ săn mồi, chìm gõ kiến đầu rìu sẽ dùng rất nhiều cách để phòng thủ. Chim mái thường sản sinh ra một loại mùi khó chịu, tuyến mùi này được chim mẹ rải lên bộ lông tơ của chim non. Mùi khó chịu sẽ đuổi kẻ thù và côn trùng ký sinh, đồng thời cũng có tác dụng kháng khuẩn rất tốt. Khi chim non nở được một tuần, chim non đã có thể bắn chất thải vào thẳng mặt kẻ thù nếu có loài nào dám chui vào trong tổ và đồng thời kêu rít lên giống như loài rắn để đe dọa kẻ thù. Chim trưởng thành cũng có thể dùng mỏ mổ mạnh vào kẻ thù, và đập cánh khi bị đe dọa.

Chim gõ kiến đầu rìu thường được thấy đứng trên mặt đất và xòe cánh xòe đuôi để tắm nắng hoặc để tắm bằng bụi đất loại bỏ ký sinh.

Phạt gã thanh niên giết hại Chim gõ kiến đầu rìu 10 triệu đồng

Thức ăn của chim gõ kiến đầu rìu là các loài côn trùng gây hại cho hoạt động của con người, vì vậy chúng rất có ích. Rất nhiều nước đã có luật bảo vệ loài chim này. Vừa qua ở Đà Lạt đã có một thanh niên bị phạt hơn 10 triệu đồng vì giết hại một cá thể chim này. Mặc dù chúng được xếp vào hạng mục loài ít quan tâm theo IUCN, nhưng tình trạng săn bắn loài chim để giải trí khiến cho việc bảo tồn số lượng chim gõ kiến đầu rìu này cũng khó khăn hơn.

Sinh vật cổ đại ở sa mạc Gobi từng săn khủng long con làm thức ăn

0
D?c long kh?ng l?
Dực long khổng lồ
Hatzegopteryx, một họ hàng của loài này. Image: Mark Witton, Wikimedia Commons

Các mảnh hóa thạch của một loài thằn lằn có cánh (dực long – pterosaur) có kích thước ngang ngửa một chiếc máy bay loại nhỏ vừa được phát hiện ở sa mạc Gobi, Mông Cổ. Hóa thạch cho thấy đây là loài dực long có kích thước to lớn nhất từng được biết đến.

Các nhà cổ sinh vật học đã tìm thấy các mảnh vỡ vùng xương cổ của loài sinh vật này ở khu vực Gurilin Tsav. Vì hóa thạch đã vỡ thành nhiều mảnh nên các nhà khoa học phải mất rất nhiều thời gian để khôi phục lại hình dáng của loài khủng long khổng lồ huyền bí này. Người đứng đầu nhóm nghiên cứu của đại học Tokyo, Takanobu Tsuihiji đã quay trở lại khu vực phát hiện hóa thạch để khám phá thêm nhiều mẫu vật, xác định rõ nó thuộc vào họ khủng long Azhdarchidae, một nhóm các loài dực long từng sống ở kỷ Phấn Trắng cách đây 70 triệu năm trước.

Mẫu vật được xác định có sải cánh rộng từ 9,7 – 12 mét, mặc dù có vẻ như chúng có thể đi bộ bằng bốn chân. Loài dực long này có thể đã sống trong vùng đất nội địa khô cằn, nơi mà ngày nay thuộc đất nước Mông Cổ. Nó cao khoảng 5,5 mét và thức ăn là các con mồi nhỏ trên mặt đất, bao gồm những con khủng long con.

Image via IFLScience/Twitter

“Đây có thể là loài dực long có kích thước lớn nhất, không có bất cứ hóa thạch nào cho có kích cỡ lớn như thế nào ở Châu Á”, chuyên gia dực long Mark Witton nhận định với báo National Geographic. Mặc dù nó không được xếp vào các loài khủng long săn mồi hàng đầu như họ hàng xa là khủng long bạo chúa, dực long có thể không e sợ bất cứ loài khủng long to lớn nào khác ở trên cạn.

Dực long là loài bò sát biết bay nhưng không giống như chim, chúng ta rất khó để có thể nghiên cứu chúng bởi vì cấu trúc xương thậm chí yếu hơn cả các loài khủng long trên mặt đất. Các nhà cổ sinh vật học cho biết dực long thực sự đã sống ở vùng đất mà ngày nay là châu Á, và mẫu vật này rất đặc biệt, nó vẫn chưa được đặt tên chính thức, nó có kích thước khác biệt so với họ hàng chúng như Quetzalcoatlus hay Hatzegopteryx. 

Hình ảnh hóa thạch của loài dực long via FossilFriday/Twitter

Video dưới đây lý giải vì sao loài dực long có rất ít hóa thạch:

Nhện Tarantula màu xanh Coban ở trong rừng nhiệt đới

0
Nh?n tarantula xanh d??ng
World Wildlife Fund/Global Wildlife Conservation Biodiversity Assessment Team 2-Potaro Plateau
Photo: Andrew Snyder via Global Wildlife Conservation

Nhện Tarantula màu xanh coban vừa được khám phá ra cùng với hơn 30 loài mới khác nhau ở công viên quốc gia Kaieteur, Guyana, Nam Mỹ.

Nhà bò sát học Andrew Snyder đã đi khắp vùng Upper Potaro ở Guyana trong vòng một đêm cho đến khi anh phát hiện ra màu sắc phản chiếu ở trong thân gỗ mục. Khi quan sát kỹ hơn anh thấy một vài con nhện tarantula màu xanh coban đang sinh sống cạnh nhau ở trong hốc cây. Điều này cho thấy loài nhện này sinh sống theo cộng đồng.

Với kinh nghiệm nghiên cứu nhiều năm về các loài sinh vật ở trong vùng, Andrew Snyder nhanh chóng nhận ra chúng là một loài nhện mới chưa từng được phát hiện ra trước đây.”Trước đây, tôi chỉ mới bắt gặp được một vài con tarantulas, hoặc một vài loài nhện không sống trong hang như Nhện ăn chim Goliath”, anh nhận định trên blog của Global Wildlife Conservation.

Photo: Andrew Snyder Photography

Dựa theo hình ảnh ghi lại, Snyder và các đồng nghiệp đã bắt tay vào nghiên cứu ngay lập tức để mô tả loài nhện như một phân loài của nhện tarantulaIschnocolinae. Tuy nhiên, nghiên cứu sẽ được tiếp tục thu thập mẫu vật để xếp loại chính thức cho loài nhện này.

Các nhà khoa học đã khám phá ra ít nhất có 8 loài nhện có màu xanh dương, tất cả sự phát triển màu sắc xanh đều liên quan đến cơ chế bất đồng (divergent mechanisms). Đất nước Guyana là một điểm nóng về đa dạng sinh học rất quan trọng, vùng đất mở ra rất nhiều bí mật cho các nhà khoa học khai phá. Tuy nhiên ở đây cũng đang xảy ra nạn khai thác kim cương và vàng. Snyder cho biết phát hiện mới giúp làm tăng trọng lượng của việc bảo tồn các loài động vật không xương sống ở đất nước này.

Video về loài nhện tarantula màu xanh dương của ViralHog — Poecilotheria metallica:

Phân biệt cá đuối Manta và cá đuối ó

0
Phân bi?t cá ?u?i manta và cá ?u?i ó
Phân biệt cá đuối manta và cá đuối ó
Cá đuối manta

Các đặc điểm của cá đuối Manta

  • Cá đuối Manta là một loài cá to lớn thuộc chi cá Manta.
  • Có hai loài cá đuối Manta, cá đuối birostris có chiều ngang cơ thể rộng tới 7 mét, và cá đuối M. alfredi có chiều ngang cơ thể 5,5 mét
  • Cả hai loài cá đuối Manta đều có cấu trúc cơ thể xương sụn (cartilaginous), chúng có hai vây ngực hình tam giác to lớn và chiếc miệng rộng lớn nằm trước cơ thể.
  • Vây đầu của cá đuối Manta có cấu trúc giống như chiếc phễu để hỗ trợ hút thức ăn. Khi cá đuối manta bơi, những chiếc vây sẽ cuộn theo hình xoắn ốc.
  • Cá đuối manta chủ yếu sống ở vùng biển nhiệt đới, mặc dù chúng cũng thường được tìm thấy ở các vùng cận nhiệt đới và vùng biển ấm.
  • Cá đuối manta sẽ nuốt một lượng lớn nước vào miệng trong khi chúng bơi, rất nhiều sinh vật phù du sẽ được lọc ra từ lượng nước ấy thông qua mang của chúng.
  • Thời kỳ mang thai của cá đuối Manta là hơn 1 năm, chúng sẽ sinh con trực tiếp.
  • Manta sẽ thường xuyên ghé thăm các địa điểm riêng để vệ sinh cơ thể, nơi có các loài cá vệ sinh loại bỏ ký sinh trùng.
  • Giống như hành vi của các loài cá voi, chúng cũng thích lao lên khỏi mặt nước và vỗ mạnh hai vây.
  • Cá đuối manta được xếp vào danh sách loài đang nguy cấp theo IUCN.
Cá đuối ó

Các đặc điểm của cá đuối ó

  • Cá đuối ó là các loài cá đuối có kích thước nhỏ có họ hàng với loài cá mập, cá nhám.
  • Cá đuối ó thuộc phân bộ Myliobatoidei, nằm trong bộ Myliobatiformes bao gồm 8 họ khác nhau cá đuối nước sâu (deepwater stingrays – Plesiobatidae), cá đuối tròn (round rays – Urotrygonidae), cá đuối sáu mang (sixgill stingray – Hexatrygonidae), cá đuối đuôi độc (stingarees – Urolophidae), cá đuối đuôi roi (whiptail stingrays – Dasyatidae), cá đuối cánh bướm (butterfly rays – Gymnuridae), cá đuối nước ngọt (river stingrays – Potamotrygonidae) và cá đuối ó sao (eagle rays – Myliobatidae).
  • Phần lớn các loài cá đuối ó đều có gai độc ở đuôi để phòng vệ.
  • Đuôi cá đuối có thể dài tới 35 cm và có hai rãnh phía dưới chứa tuyến nọc độc.
  • Toàn bộ đuôi cá đuối bao phủ bởi một lớp da mỏng giống như vảy. Nọc độc được tập trung phần lớn ở đây.
  • Cá đuối sinh sống ở rất nhiều vùng biển trên toàn thế giới, bao gồm vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới. Một số loài chỉ sống ở vùng nước ngọt.
  • Hầu hết các loài cá đuối ó sống ở tầng nước gần đáy. Tuy nhiên một số loài như cá đuối ó sao sống ở vùng biển khơi.
  • Trên thế giới hiện có khoảng 220 loài cá đuối ó được biết đến, chúng được xếp vào 10 họ khác nhau và 29 chi.
  • Rất nhiều loài cá đuối đang dần bị đe dọa dẫn tới tuyệt chủng, chủ yếu do tình trạng đánh bắt quá mức.
  • Năm 2013, 45 loài cá đuối ó được xếp vào tình trạng dễ bị tổn thương có nguy cơ tuyệt chủng theo IUCN

Những đặc điểm giống nhau của cá đuối Manta và cá đuối ó

  1. Cả hai loài đều nằm trong bộ cá đuối Myliobatiformes.
  2. Cả hai đều có cấu trúc cơ thể phẳng dẹt.
  3. Cả hai loài đều có cấu trúc xương sụn, và đều có họ hàng xa với loài cá mập.
  4. Cả hai đều có mang để lọc ô xy trong nước.
  5. Cả hai loài cá đuối đều đẻ con.

Sự khác biệt giữa cá đuối Manta và cá đuối ó

  1. Đuôi gai: Cá đuối Manta không có gai hay đuôi độc. Hầu hết cá đuối ó đều có đuôi gai độc.
  2. Môi trường sống: Cá đuối Manta sống chủ yếu ở các vùng biển nhiệt đới, trong khi cá đuối ó sống ở các vùng biển ấm, một số loài cá đuối ó chỉ sống trong môi trường nước ngọt.
  3. Vị trí miệng: Miệng của cá đuối Manta nằm ở đằng trước cơ thể, trong khi miệng cá đuối ó nằm ở phía dưới.
  4. Kích thước: Cá đuối Manta có kích thước rất lớn, chúng phát triển cơ thể tỉ lệ theo chiều ngang. Ngược lại cá đuối ó có kích thước cơ thể nhỏ hơn, chúng phát triển cơ thể theo chiều dài.
  5. Tầng nước sinh sống: Cá đuối Manta sống trong vùng nước biển khơi, trong khi cá đuối ó sống ở tâng nước thấp và tầng đáy đại dương.
  6. Trạm vệ sinh cơ thể: Cá đuối Manta thường ghé qua các khu vực trạm vệ sinh để mang của chúng được các loài cá nhỏ làm vệ sinh sạch sẽ, loại bỏ ký sinh trùng
  7. Thức ăn: Cá đuối Manta dùng cơ chế lọc nước lấy sinh vật phù du qua khoang miệng, trong khi cá đuối ó thu thập thức ăn từ miệng phía dưới, chúng ăn rất nhiều loài động vật giáp xác và nhuyễn thể.

Bảng so sánh hai loài

 Cá đuối MantaCá đuối ó
Hình dạng cơ thểCơ thể phẳng dẹtCơ thể phẳng dẹt
Cấu trúc cơ thểXương dạng sụn giống như cá mập.Xương dạng sụn giống như cá mập.
Sinh con nonĐúngĐúng
Đuôi gai độcKhôngĐúng
Môi trường sốngVùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đớiVùng biển nhiệt đới, cận nhiệt đới, sông ngòi, nước ngọt.
Vị trí miệngMiệng nằm đằng trước thẳng với cơ thểMiệng nằm dưới cơ thể
Kích thướcCó thể rộng 7m, là loài cá phát triển cơ thể theo chiều ngang.Có thể phát triển chiều dài tới 2m, là loài cá phát triển theo chiều dọc.
Tầng nước sinh sốngSống ở tầng biển khơi, biển rộngTầng đáy, nền đại dương.
Cấu trúc vây CephalicPhát triển hai bên giống như 2 chiếc sừngKhông có cấu trúc vây Cephalic
Trạm vệ sinhThường xuyên ghé các trạm vệ sinh để loại bỏ chất bẩn và ký sinh trùng.Không có trạm vệ sinh.
Thức ănSinh vật phù duĐộng vật giáp xác và nhuyễn thể.

Tổng kết

  • Cả cá đuối Manta và cá đuối ó đều nằm trong bộ cá đuối Myliobatiformes.
  • Chúng là loài cá xương sụn họ hàng với cá mập, cá nhám. Cả hai loài đều có nguy cơ tổn thương và tuyệt chủng, kết quả của việc đánh bắt không kiểm soát và nạn ô nhiễm môi trường sống.
  • Cả hai loài cá đuối đều có cấu trúc cơ thể phẳng dẹt, và đều sinh con non
  • Khác biệt chính của hai loài cá đuối đó là một loài có đuôi gai và một loài không.
  • Sự khác biệt thứ hai giữa hai loài cá đuối đó là kích thước của chúng và cách chúng phát triển cơ thể theo thời gian.
  • Một điểm phân biệt nữa đó chính là thức ăn của chúng dựa theo tầng nước sinh sống.

Chim Ưng – Accipiter

0

Họ chim ưng lại thuộc chủng chim rộng lớn bao gồm rất nhiều loài chim như chim ưng, diều hâu, đại bàng, kền kền…

Các đặc điểm của họ chim ưng

Chim ưng

Trái ngược với chim cắt, chim ưng lại nằm trong nhiều chủng loài khác nhau. Chim ưng Accipiter là một chi chim lớn nhất và cũng phổ biến nhất trên thế giới. Trí thông minh của chim ưng cũng được nhìn nhận là hơn chim cắt, chúng thường có chiến thuật tấn công con mồi bất ngờ.

  • Cũng như chim cắt, chim ưng cũng là loài sinh sống phổ biến ở khắp nơi trên thế giới ngoại trừ Nam Cực.
  • Chim ưng có thể thích nghi với mọi điều kiện môi trường sống, mọi địa hình địa lý.
  • Có tới 270 loài chim ưng họ ưng ở trên thế giới.
  • Cũng giống chím cắt, các loài chim ưng có đa dạng kích thước và cân nặng.
  • Chim ưng mái nặng hơn chim trống.
  • Chim ưng dùng mỏ sắc nhọn để xé xác con mồi.
  • Chim ưng cũng là loài chim săn mồi vào ban ngày.
  • Chim ưng không có con mồi nào cụ thể là thức ăn chính, chúng săn rất nhiều loài khác nhau.
  • Chim ưng đực có thể nhào lộn trên không trung trên 10 phút, chúng nổi tiếng với những vũ điệu trên không.
  • Chúng là loài chim chỉ có một bạn đời duy nhất, cho đến khi con còn lại chết.
  • Chim ưng có tuổi thọ từ 13-20 năm, thậm chí 25 năm tuổi.

(Bài viết còn sơ sài, sẽ được cập nhật thêm trong thời gian tới)

Chim Cắt – Falcon

0
Chim c?t
Chim cắt

Các đặc điểm của chim Cắt

Chim cắt thuộc họ cắt, chúng được biết đến với tốc độ bay nhanh đáng kinh ngạc ở tuổi trưởng thành. Chim cắt dùng mỏ để tấn công con mồi.

Chim cắt lớn
  • Chim cắt là loài chim săn mồi rất phổ biến, chúng có mặt ở khắp nơi trên thế giới ngoại trừ châu Nam Cực.
  • Chim cắt có thể thích nghi với nhiều điều kiện sống, vì thế ngày nay chúng ta có thể tìm thấy chúng ở mọi loại sinh cảnh sống khác nhau. Từ sa mạc, đến bắc cực, đồng cỏ, ngoại ô thành phố… đều có sự hiện diện của chim cắt.
  • Có tất cả hơn 40 loài chim cắt trên thế giới.
  • Tuổi thọ của chim cắt từ 12-20 năm, ở một số điều kiện sống nhất định chúng có thể sống tới 25 năm tuổi.
  • Loài chim cắt lớn nhất là chim cắt Bắc Cực Gryfalcon , chiều dài cơ thể khoảng 50-63cm, cân nặng từ 0,9-2 kg.
  • Chim cắt là loài ăn thịt trong tự nhiên, thức ăn chính của chúng là chuột, chim, cá và các loài côn trùng.
  • Chim cắt có sải cánh dài, đuôi ngắn vừa, màu lông của các loài chim cắt đa số là nâu tối, một số có màu xám.
  • Chúng đi săn dựa vào ánh sáng mặt trời, vì vậy chúng được xếp vào các loài chim chỉ hoạt động ban ngày.
  • Chim cắt được biết đến với thị lực cực kỳ tốt, khả năng nhìn xa của chúng gấp 8 lần mắt của con người.
  • Tốc độ bay của chim cắt là cực kỳ nhanh. Chim cắt lớn (peregrine falcon) có thể bay với tốc độ 320km/h. Trong một số điều kiện thuận lợi, tốc độ chim cắt được ghi nhận lên tới 389 km/h.
  • Chim cắt mái thường có kích thước to lớn hơn chim trống, chúng sẽ cùng nhau chăm sóc chim non sau khi sinh sản.

(Bài viết còn sơ sài, sẽ được cập nhật thêm trong thời gian tới)

Trăn – Python

0
Tr?n - Python
Trăn - Python

Các đặc điểm của loài Trăn

Hình ảnh loài Trăn

Trăn là một họ động vật thuộc bộ rắn, tên tiếng anh của chúng là Python, một từ có nguồn gốc Hy Lạp xuất hiện đầu tiên vài những năm 1580. Trăn có thể có chiều dài tới 9 m, kích thước to lớn khiến chúng di chuyển chậm hơn. Tuy nhiên trăn dựa vào khả năng ngụy trang, sự kiên nhẫn và sức mạnh để săn mồi thành công.
Trăn là một họ động vật phân bố chủ yếu ở châu Á và châu Phi, nhưng nơi mà chúng dễ phát triển trong môi trường ấm nóng. Các loài trăn đã được ghi nhận:

  • Angolan Python (Python anchietae) – Trăn Angola
  • Burmese Python (Python bivittatus) – Trăn Miến Điện, trăn mốc
  • Bornean Short-tailed Python / Bornean Blood Python (Python breitensteini) – Trăn đuôi ngắn Borneo, Trăn máu Borneo Malaysia.
  • Brongersma’s Short-tailed Python/ Brongersma’s Blood Python (Python brongersmai)
  • Sumatran Short-tailed Python / Sumatran Blood Python (Python curtus) – Trăn đuôi ngắn Sumatra, Trăn máu Sumatra.
  • Myanmar Short-tailed Python/ Myanmar Blood Python (Python kyaiktiyo) Trăn đuôi ngắn Myanma, Trăn máu Myanma
  • Indian Python/ Black Tailed Python (Python molurus) – Trăn Ấn Độ, Trăn Đuôi Đen
  • Ball Python/ Royal Python (Python reguis) – Trăn bóng, Trăn hoàng gia ( châu Phi)
  • Reticulated Python (Python reticulatus) – Trăn gấm, trăn mắt lưới châu Á, trăn vua.
  • African Rock Python (Python sebae) – Trăn đá châu Phi
  • Timor Python (Python timoriensis) – Trăn Timor

Các loài trăn trên đều chung một họ, ở Nam Mỹ có họ trăn riêng là Boidae ( Rắn Boa hay Trăn Nam Mỹ). Vì chúng thuộc phân họ riêng ở Nam Mỹ nên chúng ta không xét ở đây, và vì theo tên goi tiếng Anh thì trăn Anaconda không được gọi là python mà chúng thường được gọi riêng là anaconda (rắn).

(Bài viết còn sơ bộ, sẽ được cập nhật đầy đủ trong thời gian tới)

Bài viết mới