Home Blog Page 6

Tại sao rái cá biển thích nắm tay nhau khi ngủ?

0

Nếu bạn đã từng xem những bức ảnh của loài rái cá biển nắm tay nhau khi nằm ngủ trôi nổi trên mặt biển, bạn sẽ thắc mắc tại sao chúng lại làm như vậy. Trong bài viết này sẽ giải thích tường tận cử chỉ đáng yêu của loài động vật này.

Rái cá biển thường nắm chặt tay nhau để tránh bị sóng biển làm trôi dạt và tách rời khỏi nhau khi chúng ngủ say trên mặt nước. Rái cá đực cũng sợ bị con đực khác nắm tay mất người bạn tình. Việc nắm tay nhau cũng giúp chúng bảo vệ lẫn nhau tạo thành những nhóm nhỏ tránh khỏi các loài săn mồi khi trôi nổi ở trên mặt biển ngoài xa đất liền.

Tại sao rái cá biển thích nắm tay nhau khi ngủ?

Ngoài việc tránh bị sóng biển cuốn xa bờ, chúng có nỗi sợ mất đi các thành viên gia đình trong lúc ngủ và lúc nằm thư giãn trên mặt biển.

Một lý do khác mà rái cá thích nắm tay nhau là nỗi sợ của rái cá đực sẽ đánh mất bạn tình vào vòng tay của một cá thể rái cá đực khác. Sự cạnh tranh tìm bạn tình tăng cao giữa những con rái cá đực trong mùa sinh sản.

Lý do thứ ba, nắm tay cùng nhau là một cách để phòng vệ khỏi nguy hiểm của các loài săn mồi và con người. Lông rái cá được cho là một món đồ đắt đỏ, loài vật vô tội này thường bị săn bắt đến tận diệt ở nhiều nơi. Chúng nắm tay thả trôi xa bờ biển gây khó khăn cho các thợ săn bắt chúng.

Lông của rái cá biển rất dày, chúng không thay lông theo mùa như nhiều loài động vật khác mà thay lông một cách từ từ. Lớp lông dày giúp rái cá nổi trên mặt nước, vì vậy chúng phải liên tục tự chăm sóc bộ lông để có thể nổi trên mặt nước một cách tự nhiên.

Rái cá dành rất nhiều thời gian để chải chuốt cơ thể. Để làm sạch bộ lông, chúng cẩn thận dùng chi trước để gỡ rối những đoạn lông dài, vuốt trôi những đoạn lông rụng, chà vuốt cơ thể để vắt sạch lượng nước còn ngấm trong bộ lông. Một bước quan trọng nữa là rái cá thường xoay xở để không khí có thể vào thẳng trong bộ lông, tạo ra một lớp chống nước hữu hiệu.

Otter

Có phải rái cá sẽ nắm tay bất kỳ rái cá khác?

Rái cá không hề dễ dãi trong việc nắm tay một con rái cá khác. Chúng sẽ chỉ nắm tay bạn tình hoặc một thành viên trong gia đình.

Khi rái cá còn nhỏ, việc nắm tay mẹ khá khó khăn. Bởi vì chi trước của rái cá con rất nhỏ. Để tránh rái cá con bị trôi, rái cá mẹ sẽ đặt con nằm ngửa trên bụng. Khi rái cá mẹ phải đi săn, chúng sẽ đặt con ở ở trên những đám rong biển, dây rong biển sẽ giúp rái cá con nằm ổn định ở một vị trí an toàn. Rái cá cha mẹ cũng sẽ dễ dàng tìm con hơn.

Rái cá trưởng thành cũng dùng dây tảo bẹ để ngăn sóng biển cuốn trôi trong khi ngủ. tảo bẹ phát triển từ dưới đáy biển lên đến mặt nước. Dây tảo sẽ giúp chúng cố định vị trí ngủ.

Rái cá nước ngọt có thường nắm tay nhau ngủ không?

Việc các loài rái cá nước ngọt nắm tay nhau khi ngủ cũng chưa được nghiên cứu rõ ràng. Vì rái cá nước ngọt không ngủ ở trên mặt nước như rái cá biển. Bộ lông của chúng không có nhiều đặc điểm để hỗ trợ chúng nổi trong khi ngủ trên mặt nước. Khi rái cá nước ngọt sống ở trong hang, nên khá khó khăn khi quan sát và nghiên cứu, vì vậy câu hỏi này sẽ tạm thời chưa thể kết luận.

Thói quen nắm tay nhau khi ngủ của rái cá biển là đặc điểm rất hiếm thấy ở các loài động vật có vú. Điều này khiến chúng trở nên độc đáo so với các loài động vật có vú khác.

Có phải chỉ có duy nhất loài rái cá biển nắm tay nhau?

Đúng vậy, rái cá biển bơi ngửa bằng lưng của chúng. Rái cá sông bơi với gần như toàn thân ngập nước, rái cá sông không thể nổi nằm ngửa như rái cá biển.

Otter

Rái cá thường ngủ như thế nào?

Tất cả các loài rái cá đều lựa chọn một vị trí mà chúng cảm thấy an toàn để ngủ cho dù đó là trong hang hay ở trên mặt nước.

Rái cá thường ngủ ở đâu?

Các loài rái cá thường không sống ở một vị trí cố định suốt đời. Rái cá có thể tìm thấy ở khắp châu Mỹ, châu Á, châu Âu, châu Phi. Môi trường sinh sống chủ yếu là sông ngòi, ao hồ, bờ biển, và đầm lầy.

Rái cá thường sống trong hang nhưng không phải do chúng đào ra từ ban đầu. Chúng chiếm dụng hang của các loài động vật khác để ở. Hang rái cá thường nằm dưới mặt đất, bên bờ sông suối và bên trong có nhiều khoang. Một số chọn hốc gốc cây rỗng để làm tổ như loài rái cá sông ở Bắc Mỹ. Đôi khi cửa ra vào hang là ở dưới mặt nước. Tổ của rái cá có thể được lót vỏ, lá cây, cỏ và lông của các loài động vật khác.

Chí có loài rái cá biển là không thích sinh sống và ngủ ở trên cạn.

Otter

Rái cá biển có làm điều gì khác nữa trong khi ngủ không?

Rái cá biển có thể nổi trên mặt nước trong khi ngủ bằng cách nằm ngửa, toàn bộ phần lưng sẽ nằm dưới mặt nước. Đôi khi rái cá biển sẽ nằm trên rừng tảo bẹ để ngủ khi không có bạn đời để nắm tay.

Phần lớn thời gian nằm ngửa nổi trên mặt biển không phải để ngủ. Chúng thường được phát hiện thấy mang sò, ốc, hay đá lượm được ở dưới đáy biển mang đặt trên bụng để chơi và ăn. Khi ở bên bạn đời và gia đình, chúng sẽ không bao giờ quên việc nắm tay. Rái cá biển là loài động vật có tính xã hội cao, chúng hiểu rõ được rất nhiều lợi ích của thói quen nắm tay nhau khi ngủ. Các loài rái cá luôn bảo vệ con hết mình, rái cá biển sẽ không ngủ trừ khi đã chắc chắn rằng con non không nằm ngủ dưới mặt nước.

Nếu chúng không nắm tay nhau ngủ, chúng sẽ dùng rong biển che vùng mắt và các ngón chân để cho dễ ngủ.

Danh sách các loài mèo hoang dã nhỏ

0

Trong thế giới các loài mèo hoang dã có mặt trên Trái Đất, có tới hơn 80% là các loài mèo hoang dã cỡ nhỏ và vừa nhỏ. Chúng sinh sống rộng khắp từ Châu Phi, Châu Á, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Trung Mỹ và Châu Âu. Hầu hết các loài mèo hoang dã nhỏ có kích thước ngang bằng với mèo nhà. Một số có kích thước lớn hơn một chút.

Bạn có thể tìm thấy mèo hoang dã nhỏ ở khắp mọi môi trường sống, từ sa mạc đến đồng cỏ và đồi núi.

Cũng giống như các loài mèo lớn, các loài mèo hoang dã nhỏ đang đối diện với tình đang bị đe dọa về bảo tồn, bao gồm môi trường sống bị đánh mất, bị săn bắt trộm và sự suy giảm con mồi trong tự nhiên.

Thông tin về từng loài mèo cụ thể ở dưới đây, vui lòng bấm vào tên của mỗi loài để tìm hiểu chi tiết hơn. Danh sách sẽ xếp theo tên Tiếng Việt (tên Tiếng Anh – tên khoa học).

Danh sách các loài mèo hoang dã cỡ nhỏ

Báo lửa – Beo vàng châu Á (Asian Golden Cat – Catopuma temminckii)

Karen Stout/Wikimedia Commons [CC BY-SA 2.0]
Đây là loài mèo sống về đêm ở các nước Trung Quốc, Nepal, một phần ở Ấn Độ, Đảo Sumatra, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam… Có hai phân loài báo lửa là C. t. temminckii (phân bố ở Sumatra and Malay Peninsula) và C. t. moormensis (phân bố ở Nepal và các nước Đông Nam Á, Trung Quốc).

Tình trạng bảo tồn: Sắp bị đe dọa.

Mèo núi Andes

Source: International Society for Nguy cấp Cats (ISEC) Canada

Mèo núi Andes có bộ lông dày và mượt như nhung. Chúng phân bố ở dãy núi Andes ở các quốc gia Peru, Bolivia, Chile và Argentina. Chúng là loài nguy cấp, có nguy cơ trở thành loài bị đe dọa tuyệt chủng.

Tình Trạng Bảo Tồn: Nguy cấp.

Mèo nâu đỏ (Bay Cat, Bornean Bay Cat – Pardofelis badia)

Source: https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/b/ba/Bay_cat_1_Jim_Sanderson-cropped.jpg

Mèo nau đỏ hay còn gọi là mèo nâu đỏ Borneo là một loài mèo hoang dã nhỏ có kích thước lớn nhỉnh hơn mèo nhà, chúng là loài đặc hữu chỉ có ở đảo Borneo.

Tình Trạng Bảo Tồn: Nguy cấp.

Mèo chân đen (Black-footed Cat – Felis nigripes)

Source: Jonathan Kriz | SmithSonianMag

Đây là một trong những loài mèo hoang dã có kích thước nhỏ nhất. Chúng phân bố ở các nước Nam Châu Phi bao gồm Nam Phi, Botswana và Nambia.

Tình Trạng Bảo Tồn: Sắp nguy cấp.

Linh miêu đuôi cộc (Bobcat – Lynx rufus)

Source: kids.nationalgeographic.com

Linh miêu đuôi cộc có thể tìm thấy ở khắp lục địa Bắc Mỹ, trải dài từ Canada cho tới Bắc Mexico. Chúng sinh sống ở đa dạng các sinh cảnh khác nhau bao gồm rừng rậm đầm lầy hay môi trường sa mạc.

Tình Trạng Bảo Tồn: Ít quan tâm.

Linh miêu Canada (Canada Lynx – Lynx canadensis)

Source: Sven V | observation.org

Phân bố ở Canada, một phần ở Hoa Kỳ, Nova Scotia and New Brunswick. Linh miêu Canada là một loài thuộc chi linh miêu. Chúng sống ở sinh cảnh rừng rậm lá kim và rừng gỗ.

Tình Trạng Bảo Tồn: Ít quan tâm

Linh miêu tai đen (Caracal – Caracal caracal)

Linh miêu tai đen thích sinh sống ở các vùng đất khô cằn, phân bố khắp châu Phi, Ấn Độ và châu Á. Chúng được xem là loài động vật sa mạc.

Tình Trạng Bảo Tồn: Ít quan tâm.

Mèo núi Trung Hoa (Chinese Desert Cat, Chinese Mountain Cat – Felis bieti)

Image credit Shan Shui Conservation Center, China

Loài mèo hoang dã châu Á chỉ phân bố ở Tây Tạng, Trung Quốc.

Tình Trạng Bảo Tồn:  Sắp nguy cấp.

Linh miêu Á-Âu (Eurasian Lynx – Lynx lynx)

Linh miêu Á – Âu có thể tìm thấy ở khắp Châu Âu, Nga và Trung Á và Tây Tạng, chúng là một phân loài to lớn nhất trong chi Linh miêu.

Tình Trạng Bảo Tồn: Ít quan tâm.

Mèo cá (Fishing Cat – Prionailurus viverrinus)

Source: thehindu.com

Mèo cá phân bố rộng khắp các nước Đông Nam Á, bao gồm quần đảo Java, Sumatra, bán đảo Malaysia, Ấn Độ, Sri Lanka và Việt Nam.

Tình Trạng Bảo Tồn: Nguy cấp.

Mèo đầu phẳng (Flat-headed Cat – Prionailurus planiceps)

Source: Jim Sanderson | Wikipedia

Loài mèo hoang dã này chỉ có mặt ở Sumatra, bán đảo Malaysia và các quần đảo Borneo. Cũng giống như báo Cheetah, móng vuốt của mèo đầu phẳng không co rút lại hoàn toàn.

Tình Trạng Bảo Tồn: Nguy cấp.

Mèo Geoffroy (Geoffroy Cat – Leopardus geoffroyi)

Source: Charles Barilleaux from Cincinnati, Ohio, United States of America.

Địa bàn sinh sống của mèo Geoffroy là Argentina, một sô phân loài sống ở Paraguay, Bolivia và Brazil.

Tình Trạng Bảo Tồn: Sắp bị đe dọa.

Linh miêu Iberia (Iberian Lynx – Lynx pardinus)

Source: theeuropeannaturetrust.com

Sinh sống ở bán đảo Iberian, miền nam Tây Ban Nha. Chúng là loài mèo hoang dã thuộc diện cực kỳ nguy cấp trên thế giới.

Tình Trạng Bảo Tồn: Cực kỳ nguy cấp.

Mèo cây châu Mỹ (Jaguarundi – Herpailurus yagouaroundi)

Source: wildearthguardians.org

Được tìm thấy ở các nước Nam Mỹ, Trung Mỹ và Mexico. Hầu hết sống ở vùng đất thấp, đầm lầy với phạm vi sống rất rộng.

Tình Trạng Bảo Tồn: Ít quan tâm.

Mèo ri (Jungle Cat – Felis chaus)

Source: Digvijay Lande

Loài mèo nhỏ với phạm vi sống rất rộng, bao gồm Trung Á, các nước châu Á có sông suối như Ai Cập, Sri Lanka, Thái Lan, Indochina, Việt Nam. Chúng còn được gọi với nhiều tên Việt như mèo sậy hay mèo đầm lầy.

Tình Trạng Bảo Tồn: Ít quan tâm.

Mèo đốm Kodkod (Kodkod, Guigna – Leopardus guigna)

Địa bàn sinh sống chính của mèo đốm kodkod là các khu rừng ở vùng trung và nam Chile. Đây là một trong hai loài mèo hoang dã có kích thước nhỏ nhất thế giới.

Tình Trạng Bảo Tồn: Sắp nguy cấp.

Mèo báo (Leopard Cat – Prionailurus bengalensis)

Source: Tambako the Jaguar/Flickr/CC

Phân bố ở các nước Nam Á, Trung Quốc, Thái Lan, Philippines, Việt Nam, Bhutan và Brunei. Sinh cảnh sống là rừng thưa và rừng rậm nhiệt đới.

Tình Trạng Bảo Tồn: Ít quan tâm.

Các phân loài của mèo báo:

Mèo Iriomote (Iriomote Cat – Prionailurus bengalensis iriomotensis)

Sống ở hòn đảo Iriomote thuộc nước Nhật. Số lượng loài này chỉ còn khoảng 250 cá thể tồn tại trên hòn đảo.

Tình Trạng Bảo Tồn: Cực Kỳ Nguy cấp.

Mèo gấm (Marbled Cat – Pardofelis marmorata)

Địa bàn sinh sống rộng khắp các nước châu Á bao gồm Sumatra, Borneo và Malaysia. Chúng chỉ trú ngụ trong rừng rậm.

Tình Trạng Bảo Tồn:  Sắp nguy cấp.

Mèo đốm Margay (Margay – Leopardus wiedii)

Loài mèo thích sống trên cây trải dài ở các khu rừng Mexico tới Argentina. Môi trường sống của mèo đốm Margay bị sụt giảm nghiêm trọng do nạn phá rừng.

Tình Trạng Bảo Tồn: Sắp bị đe dọa.

Mèo gấm Ocelot (Ocelot – Leopardus pardalis)

Mèo gấm ocelot có mặt ở rất nhiều nước Trung và Nam Mỹ, bao gồm Mexico, các nước Trung Mỹ, và Nam Mỹ. Chúng thích sinh sống ở nơi cây cối rậm rạp dễ trú ẩn.

Tình Trạng Bảo Tồn: Ít quan tâm.

Mèo đốm Oncilla (Oncilla,Little Spotted Cat – Leopardus tigrinus)

Source: medioambiente.net

Mèo đốm Oncilla phân bố trải khắp Bắc, Trung và Nam Mỹ. Tuy vậy đây là một loài mèo hiếm có đang ở tình trạng nguy cấp vì bị săn bắt lấy lông, chúng có khá nhiều tên tương ứng với nhiều phân loài.

Tình Trạng Bảo Tồn:  Sắp nguy cấp.

Mèo Pallas (Pallas’s Cat – Octocolobus manul)

Source: fondationsegre.org

Phân bố ở Trung Á, Siberia, Tây Tạng và Iran. Loài mèo được đặt tên theo nhà tự nhiên học Peter Pallas người Đức. Có hai phân loài mèo Pallas: O. m. manul (phân bố khu vực phía tây và phía bắc Trung Á) và O. m. nigripectus (Himalayas).

Tình Trạng Bảo Tồn: Threatened.

Mèo Pampas (Pampas Cat – Leopardus colocola)

Mèo Pampas phân bố ở lục địa Nam Mỹ trải dài theo dãy Andes, địa bàn sinh sống từ đồng cỏ đến đầm lầy và rừng rậm. Hiện có một số phân loài đã được ghi nhận. Màu lông cũng đa dạng tùy thuộc vào phân bố địa lý của môi trường mà mèo pampas sinh sống.

Tình Trạng Bảo Tồn: Sắp bị đe dọa.

Mèo đốm gỉ (Rusty-spotted Cat – Prionailurus rubiginosus)

Một loài mèo hoang dã nhỏ phân bố ở nhiều nơi trong đất nước Ấn Độ vào gồm sinh cảnh rừng rậm, đồng cỏ và cây bụi.

Tình Trạng Bảo Tồn: Sắp nguy cấp.

Mèo cát (Sand Cat – Felis margarita)

Wallpaper Cave

Loài mèo sa mạc phân bố ở sa mạc Ả Rập, Sahara, Ma-rốc, Mảuitania, Ai Cập và Sudan. Mèo cát được biết đến với khả năng săn bắt rắn làm thức ăn. Hiện có hai phân loài được phát hiện: Felis margarita margarita (Bắc Phi) and Felis margarita thinobia (Đông và Trung Phi).

Tình Trạng Bảo Tồn:  Sắp bị đe dọa.

Linh miêu đồng cỏ (Serval – Leptailurus serval)

Source: kids.nationalgeographic.com

Một loài mèo hoang dã có thể tìm thấy ở các đồng cỏ Savan châu Phi. Tên của chúng bắt nguồn từ tiếng Bồ Đào Nha có nghĩa là “hươu-sói”(seval). Hiện có ba phân loài linh miêu đồng cỏ: Leptailurus serval serval (Nam Phi), Leptailurus serval constantina (Trung và Tây Phi) and Leptailurus serval lipostictus (Đông Phi).

Tình Trạng Bảo Tồn: Ít quan tâm.

Mèo hoang – Wildcat

Tên gọi Mèo hoang được gọi cho những loài mèo hoang dã trước đây từng là mèo nhà đã thuần hóa sau đó quay trở lại môi trường tự nhiên sinh sống rồi hình thành loài. Trên ảnh là loài mèo hoang châu Phi. Ngoài ra còn có có mèo hoang châu Âu và mèo hoang châu Á.

Tình Trạng Bảo Tồn:  Ít quan tâm.

Phân loài mèo hoang ở châu Âu:

Mèo hoang Scotland (Scottish Wildcat – Felis silvestris grampia)

Đây được mệnh danh là loài săn mồi hoang dã có kích thước lớn nhất trên cạn ở nước Anh. Chỉ còn ít hơn 400 mèo hoang Scotland còn tồn tại ngoài tự nhiên.

Tình Trạng Bảo Tồn: Cực Kỳ Nguy cấp.

Beo vàng châu Phi (African Golden Cat – Caracal aurata)

© Terry Whittaker / www.flpa-images.co.uk

Hiện tại có rất ít nghiên cứu về loài Beo vàng châu Phi, loài mèo nhỏ sống ở các khu rừng đặc hữu ở Tây Phi và Trung Phi. Chúng được biết đến với hai phân loài cụ thể là Beo vàng sông Congo (Caracal aurata aurata) và Beo vàng sông Cross (Caracal aurata celidogaster). Chúng chủ yếu săn bắt các loài gặm nhấm nhỏ và sóc làm thức ăn chính.

Tình trạng bảo tồn: Sắp bị đe dọa.

Nguồn: Kenhdongvat.com

Tổng hợp nội dung và hình ảnh từ internet.

Phân Biệt Alpaca và Llama – 7 Điểm Khác Nhau Dễ Nhận Biết

0
(L) KKPCW | (R) Sanjay Acharya / Wikimedia Commons / CC BY-SA 4.0

Llamas và alpacas từ xa xưa đã được người bản địa ở Châu Mỹ sử dụng làm phương tiện vận tải và thực phẩm trong hàng nghìn năm qua. Cả hai loài lạc đà này chủ yếu được tìm thấy ở Peru và Bolivia.

Cả hai đều thuộc họ lạc đà Camelidae. Alpacas và Llamas là hai trong số 4 loài lạc đà Nam Mỹ lamoid, hai loài còn lại là Lạc đà VicuñaLạc đà Guanaco. Một điều tuyệt vời là cả 4 loài lạc đà này đều có thể lai giống với nhau cho ra thế hệ con lai giữa các loài. Alpacas và Llamas được nuôi và chăn thả tự do, chúng có những điểm khác nhau nhất định. Những đặc điểm hình thể dễ phân biệt nhất giữa hai loài chính là kích thước, kiểu lông, cấu trúc khuôn mặt. Hơn nữa, chúng có nhiều điểm dễ phân biệt thông qua vai trò của chúng đối với con người trải qua hàng nghìn năm.

Alpaca and Llama side by side

© Jarno Gonzalez Zarraonandia/Shutterstock.com;© belizar/Fotolia

Phân biệt kích thước và khuôn mặt

Điểm dễ nhận biết nhất giữa hai loài lạc đà chính là kích thước của chúng. Lạc đà Alpacas nhỏ hơn, chiều cao vai khoảng 90 cm và cân nặng 55 – 65 kg. Llamas là loài lạc đà Nam Mỹ có kích thước lớn nhất, chiều cao vai khoảng 120 cm và nặng 113 kg. Vậy nên khi nhìn qua bạn sẽ biết được Llamas lớn hơn họ hàng của nó một chút. Khuôn mặt của chúng khá tương tự nhau. Alpaca có khuôn mặt nhỏ và ngắn, đôi tai nhỏ. Llamas có khuôn mặt thon dài hơn, đôi tai cũng dài hơn, có hình quả chuối.

llama vs alpaca

Sự khác biệt về bộ lông

Đặc điểm nhận biết nữa là bộ lông. Alpacas có bộ lông xù, thường được sử dụng làm các sản phẩm may mặc. Màu lông lạc đà Alpacas rất đa dạng từ trắng đến vàng nhạt hay màu nâu, màu đen. Llamas có bộ lông thô hơn, chất lượng lông của Llamas được cho rằng kém hơn Alpacas. Những người chăn nuôi họ đang cố tạo ra những giống llamas ngày càng mượt và mềm hơn.

Baby Alpaca vs Baby llama

Tính cách và vai trò với con người

Từ xa xưa, con người đã sử dụng llamas để chở đồ đạc. Chúng có thể mang được nhiều đồ nặng trên lưng. Trung bình một con llama có thể mang từ 45 – 60 kg với quãng đường hơn 30 km mỗi ngày. Tuy vậy lạc đà llamas thường bị mang tiếng xấu, chúng thường bị ngược đãi hoặc bị bắt phải chuyên chở nặng, chúng sẽ phản ứng lại bằng cách phun nước bọt, đá hậu, nằm dài ra hoặc đứng bất thần từ chối đi tiếp. Thông thường llamas là sinh vật khá hiền lành. Alpacas, mặt khác lại khá nhút nhát, chúng thích tự tập thành đàn. Llamas cũng có thể được sử dụng làm loài vật canh gác cho gia chủ, bảo vệ dê cừu, gia cầm và bảo vệ luôn cả Alpacas.

Nguồn gốc và lịch sử thuần hóa

Cả alpaca và llama đều được thuần hóa khoảng 4.000 – 5.000 năm trước tại vùng cao nguyên Andes thuộc Peru và Bolivia. Tuy nhiên, chúng có nguồn gốc từ hai loài hoang dã khác nhau: alpaca được thuần hóa từ loài vicuña (Vicugna vicugna), còn llama được thuần hóa từ loài guanaco (Lama guanicoe).

Người Inca cổ đại coi lông alpaca là “sợi vàng của các vị thần” — chỉ hoàng tộc mới được sử dụng. Sau khi Tây Ban Nha xâm chiếm Nam Mỹ vào thế kỷ 16, số lượng cả hai loài giảm mạnh và chúng bị đẩy lên vùng núi cao (3.500 – 5.000 mét so với mực nước biển).

Sự khác biệt về răng

Một điểm khác biệt ít ai biết giữa hai loài nằm ở cấu trúc răng. Llama có răng cửa trên phát triển thành dạng răng chiến đấu (fighting teeth), dùng để cắn đối thủ khi tranh giành lãnh thổ. Llama đực mọc khoảng 6 chiếc fighting teeth khi được 2 – 3 tuổi, và người chăn nuôi thường phải cắt bớt để tránh chúng gây thương tích cho nhau.

Ngược lại, alpaca không có răng cửa trên — thay vào đó chỉ có tấm nướu cứng (dental pad), tương tự như cừu. Sự khác biệt này phản ánh vai trò tiến hóa: llama cần tự vệ và chiến đấu, trong khi alpaca được nuôi thuần cho mục đích lấy lông.

Giá trị kinh tế hiện đại

Lông alpaca mềm hơn cashmere, ấm hơn lông cừu 5 – 7 lần và không chứa lanolin nên rất thân thiện với người dị ứng. Đặc biệt, lông alpaca có tới 22 màu tự nhiên khác nhau. Mỗi năm, một con alpaca cho khoảng 2,5 – 4,5 kg lông khi cắt. Lông llama thô hơn, thường chỉ dùng làm dây thừng, bao tải và thảm.

Hiện nay trên thế giới có khoảng 3,5 – 4 triệu con alpaca (87% ở Peru) và 7 – 9 triệu con llama (tập trung ở Bolivia, Peru, Argentina). Alpaca cũng được nuôi thương mại ở Úc, Mỹ, New Zealand và Anh.

Con lai Huarizo

Khi alpaca và llama lai giống với nhau, chúng tạo ra con lai gọi là huarizo (llama đực × alpaca cái) hoặc warizo (alpaca đực × llama cái). Khác với con la (lừa × ngựa) vốn bị vô sinh, huarizo có khả năng sinh sản bình thường. Con lai có kích thước trung bình giữa hai loài cha mẹ, với chất lượng lông tốt hơn llama nhưng kém hơn alpaca thuần chủng.

Tuy nhiên, người chăn nuôi thường không khuyến khích lai giống vì điều này làm giảm chất lượng lông alpaca qua các thế hệ. Tại Peru, chính phủ từng triển khai chương trình tách riêng đàn alpaca và llama để bảo tồn giống thuần.

Tuổi thọ

Alpaca có tuổi thọ trung bình 15 – 20 năm, trong khi llama sống lâu hơn một chút, khoảng 15 – 25 năm. Cả hai loài đều sống lâu hơn đáng kể so với cừu (10 – 12 năm). Về sức khỏe, cả hai loài có 3 ngăn dạ dày (không phải 4 như bò) và được xếp loại “giả nhai lại” (pseudoruminant). Chúng chịu lạnh rất tốt nhưng chịu nóng kém — nhiệt độ trên 30°C có thể gây nguy hiểm.

Phát hiện linh miêu đồng cỏ châu Phi có bộ lông màu đen cực hiếm

0

Chúng ta có thể thường xuyên thấy các loài mèo lớn có màu lông đen như ở loài báo hoa mai hay báo đốm, nhưng xác suất để nhìn thấy một cá thể linh miêu đồng cỏ màu đen là cực hiếm.

Ảnh: u/willbl | Công viên quốc gia Serengeti, Tanzania

Tác giả đã chụp lại khoảnh khắc hiếm thấy về gia đình của linh miêu đồng cỏ châu Phi, trong đó có một mèo con mang hội chứng hắc tố (hội chứng màu lông đen bất thường khác với đồng loại, hay còn gọi là melanism).

Đối với nhiều loài mèo, việc mang màu lông đen không ảnh hưởng quá nhiều đến cuộc sống của chúng, tuy nhiên với linh miêu đồng cỏ lại là điều gây bất lợi, chúng dễ bị con mồi phát hiện khi đi săn ban ngày, ngoài ra, màu lông đen ở môi trường đồng cỏ nắng nóng khiến cơ thể chúng dễ bị hấp thụ nhiệt từ ánh mặt trời nhiều hơn. Dẫn đến những cá thể đột biến sinh tồn khó khăn hơn trong môi trường hoang dã.

Ảnh: u/willbl | Công viên quốc gia Serengeti, Tanzania

“Những bất lợi trên có thể giải thích phần nào vì sao tỉ lệ mắc hội chứng hắc tố này rất hiếm khi xảy ra ở loài linh miêu đồng cỏ nhưng lại phổ biến ở các loài báo hoa mai và báo đốm châu Mỹ vì môi trường sống của hai loài mèo này chủ yếu phấn bố trong rừng rậm, chúng không bị ánh nắng ảnh hưởng đến màu lông đen.” (Nhận định chủ quan của người viết)

Thông tin thêm về linh miêu đồng cỏ Châu Phi

Linh miêu đồng cỏ là loài săn mồi chủ yếu vào thời điểm đầu bình minh hoặc thời điểm chạng vạng gần tối. Nhưng chúng cũng đi săn vào ban đêm khi linh miêu sống gần con người và dựa vào ánh đèn. Chúng cũng thỉnh thoảng được bắt gặp đi săn vào ban ngày ở Công Viên Quốc Gia Serengeti, bởi vì ở đây có rất nhiều con mồi chỉ hoạt động vào ban ngày.

Ảnh: u/willbl | Công viên quốc gia Serengeti, Tanzania

Linh miêu đồng cỏ thường săn ếch, thỏ, và các loài chim (bao gồm các loài chim lớn như chim hồng hạc) nhưng chủ yếu chúng săn các loài gặm nhấm. Như một sản phẩm tuyệt vời của tiến hóa, chúng có đôi tai lớn rộng vành bao quanh hộp sọ đóng vai trò là các buồng dội âm và tăng cường tín hiệu âm thanh. Khả nang thích ứng với môi trường khiến cho linh miêu có thể dễ dàng nghe được mọi tiếng động dù là rất nhỏ của các loài gặm nhấm.

Các loài linh cẩu, báo hoa mai, chó hoang Châu Phi cũng thường chọn linh miêu đồng cỏ làm con mồi. Sư tử và các sấu cũng sẽ giết hại linh miêu nếu có cơ hội. Những thử thách sinh tồn khó khăn và cả sự ảnh hưởng bởi hoạt động xâm lấn của con người, linh miêu đồng cỏ vẫn là loài mèo hoang dã vẫn rất mạnh mẽ, số lượng loài của chúng vẫn ở mức ổn định. Linh miêu đồng cỏ châu Phi có thể sống tới 22 năm.

Top 10 loài động vật kỳ lạ được phát hiện ở Việt Nam

0

Việt Nam là nước có đa dạng sinh học cao vì thế không thiếu những loài sinh vật lạ, độc đáo. Hãy cùng Báo Tri thức và Cuộc sống ngắm nhìn 10 loài động vật kỳ lạ được phát hiện ở Việt Nam.

10 loai sinh vat ky la duoc phat hien tai Viet Nam

Mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis), một trong những loài động vật kỳ lạ. Mang Trường Sơn còn gọi là hoẵng, kỉ, hay mễn… là loài thú có giá trị vô cùng lớn. Loài động vật đặc hữu này được phát hiện trong dãy núi Trường Sơn, địa phận tỉnh Quảng Nam (Hiên Giăng, Phước Sơn) vào năm 1997. Tiếp đó là Khu Bảo tồn Sao la Thừa Thiên – Huế.

10 loai sinh vat ky la duoc phat hien tai Viet Nam-Hinh-2

Trĩ sao (Rheinardia ocellata) được xem là một trong những loài chim đẹp nhất tồn tại trong thiên nhiên hoang dã ở Việt Nam. Chúng phân bố nhiều tại vườn quốc gia Bạch Mã, rừng vùng đèo ở A Lưới, khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ. Do biến động môi trường và săn bắt trái phép, số lượng cá thể trĩ sao đang giảm nhanh.

10 loai sinh vat ky la duoc phat hien tai Viet Nam-Hinh-3

Thằn lằn bay Đông Dương (Draco indochinensis) là một loài sinh vật kỳ lạ có mặt ở nước ta. Nó thuộc họ Agamidae, sống trên cây, ít khi xuống đất. Loài này có chiều dài thân khoảng 10cm, sống tại Campuchia và miền Nam Việt Nam.

10 loai sinh vat ky la duoc phat hien tai Viet Nam-Hinh-4

Cá thòi lòi (Periophthalmodon schlosseri) hô hấp bằng phổi khi trên cạn, xuống nước dùng mang. Chúng di chuyển trên mặt bùn khá nhanh, gần như chạy nhảy nhờ bộ vây giống như hai bánh chèo. Tại Việt Nam, cá thòi lòi phổ biến khắp các cửa sông tại ĐBSCL.

10 loai sinh vat ky la duoc phat hien tai Viet Nam-Hinh-5

Rùa lá ngực đen (Vietnamese leaf turtle) là một trong những loài rùa nhỏ nhất trên thế giới. Khi trưởng thành, rùa đực chỉ đạt chiều dài từ 7 đến 11cm, nặng 90 – 125 gram, rùa cái khoảng 150-190 gram. Loài này phân bố ở miền Bắc Việt Nam, sống trên sườn núi đá vôi có suối chảy.

10 loai sinh vat ky la duoc phat hien tai Viet Nam-Hinh-6

Ve sầu vòi voi cánh vàng (Pyrops caldelaria) sở hữu đôi cánh lung linh sắc màu. Loài này có khả năng bật nhảy rất nhanh. Chúng sống nhiều trong các khu rừng ở Đồng Nai, Bình Phước và thường xuất hiện khi có những cơn mưa đầu mùa lúc trời tối.

10 loai sinh vat ky la duoc phat hien tai Viet Nam-Hinh-7

Cheo cheo Nam Dương (Tragulus javanicus) có chân dài khoảng 40 – 50cm; trọng lượng trung bình 1,3 – 2,3kg, không có sừng, lông ngắn, mịn, dọc gáy có vệt lông đen. Chúng phân bố tại Lạng Sơn, Vĩnh Phú, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị…

10 loai sinh vat ky la duoc phat hien tai Viet Nam-Hinh-8

Ếch cây sần Bắc Bộ Vietnamese (Mossy Frog): Loài ếch này được tạp chí giải trí Bored Panda vinh danh là “bậc thầy ngụy trang”. Điểm nổi bật của loài ếch này là bộ da sần, có đốm như rêu. Chúng được tìm thấy ở miền Bắc Việt Nam.

10 loai sinh vat ky la duoc phat hien tai Viet Nam-Hinh-9

Voọc mũi hếch Bắc Bộ (Rhinopithecus avunculus) hay cà đác, Voọc mũi hếch Bắc Bộ có khuôn mặt khá hài hước với mũi và môi màu hồng, quanh mắt màu xanh. Loài động vật linh trưởng này được tìm thấy ở độ cao 200 đến 1.200m trong những khu rừng ở Quảng Ninh, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái.

10 loai sinh vat ky la duoc phat hien tai Viet Nam-Hinh-10

Bọ ngựa cánh xanh (Creobroter gemmatus): Điểm nổi bật là hai đốm mắt màu vàng viền đen rất nổi bật ở mặt cánh trên. Lớp cánh trong của chúng giống như một tác phẩm nghệ thuật của tạo hóa. Tại Việt Nam, loài bọ ngựa cánh xanh này phân bố ở Phú Thọ, sống ở độ cao trên 1.000m.

Loài cá khổng lồ đe dọa hệ sinh thái châu Âu

0

Cá nheo nước ngọt có nguồn gốc từ Đông Âu. Đây được xem là sinh vật ngoại lai, đe dọa những loài cá bản địa vốn đang sụt giảm về số lượng.

Lần đầu tiên Frédéric Santoul chứng kiến hành vi săn mồi của loài cá nước ngọt lớn nhất châu Âu, anh đứng trên cây cầu thời trung cổ bắc qua sông Tarn ở Albi, thị trấn ở miền Nam nước Pháp.

Trên hòn đảo nhỏ phía dưới, những con bồ câu lang thang vô tư lự, không chú ý đến đàn cá nheo đang tiếp cận bờ đảo. Đột nhiên, một con cá lao khỏi nước lên cạn, đớp một con bồ câu trước khi lăn xuống nước, con mồi ngậm chặt trong miệng.

“Tôi biết cá voi sát thủ có lao lên bờ để bắt hải cẩu, nhưng chưa từng thấy hành vi đó ở các loài cá khác” – Santoul, nhà sinh thái học chuyên ngành cá tại Đại học Toulouse, chia sẻ. Anh đã dành phần còn lại của mùa hè quan sát và ghi lại hiện tượng này.

Cách đây gần một thập kỷ, người ta không có nhiều thông tin về loài cá này ở Tây Âu, chúng được dân câu cá nhập về vào những năm 1970. Loài cá có thể dài đến 3 m và nặng đến gần 300 kg này là động vật bản địa Đông Âu, nhưng đã lan ra 10 quốc gia ở khắp Tây và Nam Âu.

Trong môi trường sống bản địa, nơi chúng bị đánh bắt và nuôi lấy thịt, cá nheo Âu không bị coi là một loài có vấn đề. Tại đó, các quần thể loài này được đánh giá là tương đối ổn định suốt nhiều thập kỷ, ít bằng chứng cho thấy chúng ăn quá mức các loài cá khác.

Nhưng ở những dòng sông nơi chúng mới sinh sống, loài ngoại lai này nhắm đến các giống cá di trú quan trọng và đang bị đe dọa, như cá trích Allis và cá hồi Đại Tây Dương, những loài mà quần thể tại châu Âu đang suy giảm nghiêm trọng về số lượng.

Santoul bày tỏ lo ngại rằng loài cá săn mồi này có thể xóa sổ nhiều giống cá bản địa Tây Âu, làm thay đổi vĩnh viễn hệ sinh thái sông vốn đang lao đao trước tác động từ những con đập, ô nhiễm nước và đánh bắt quá đà.

“Tác động tích lũy từ những nhân tố này có thể dẫn tới sự sụp đổ của quần thể cá trong 10 năm tới”, Santoul cảnh báo.

Bữa tiệc của những con cá khổng lồ

Năm 1974, một thợ câu cá người Đức đã thả hàng nghìn con cá nheo con xuống sông Ebro ở Tây Ban Nha. Những dân câu khác, với hy vọng có cơ hội bắt được con cá khổng lồ như vậy, làm điều tương tự tại các con sông khác ở nhiều quốc gia, và loài này nhanh chóng sinh sôi.

Như những loài ngoại lai khác, cá nheo Âu sinh trưởng mạnh mẽ ở những dòng sông đã bị thay đổi bởi con người, nơi nước có nhiệt độ cao và nồng độ ôxy thấp khiến nhiều loài bản địa khó sinh tồn. Cá nheo Âu lớn nhanh, tuổi thọ cao (lên đến 80 năm), và sinh sản dễ. Con cái có thể đẻ hàng trăm nghìn trứng mỗi lần.

Nhưng khả năng săn mồi có thể mới là điều khiến chúng trở nên đáng sợ. Giống như các loài cá da trơn khác, cá nheo Âu có các giác quan phát triển, đặc biệt là phát hiện chuyển động của con mồi. Chúng cũng có khả năng “thích ứng nhanh chóng với các nguồn thức ăn mới”, Santoul cho biết. Anh đã ghi lại cách loài cá này săn hến châu Á, một loài ngoại lai khác.

Cá nheo Âu rình rập tấn công đám bồ câu trên đảo ở sông Tarn. Ảnh: National Geographic.

Chúng đặc biệt nhắm tới những loài cá bơi từ đại dương vào sông để sinh sản, như cá hồi Đại Đây Dương – loài ít có thiên địch; cá mút đá biển – một loài cá không hàm bị đe dọa ở châu Âu; và cá trích Alis, một nguồn hải sản thương mại giá trị.

Chúng cũng có thêm những chiến thuật săn mồi chưa từng xuất hiện trong môi trường bản địa, như chộp bồ câu trên cạn.

Tại sông Garonne của Pháp, những con cá nheo đôi khi nằm chờ trong hầm thông thủy điện để bắt cá hồi di trú.

Cũng ở con sông đó, theo một nghiên cứu năm 2020, cá nheo Âu cũng đã học cách săn cá trích Alis đang đắm chìm trong vũ điệu tìm bạn đời ở mặt sông vào buổi tối.

“Những nghiên cứu đó đưa ra cùng một kết luận: Cá nheo Âu đã trở thành mối đe dọa lớn với các loài cá di trú quan trọng”, Santoul nói.

Nhưng anh cho biết thêm, loài này không gây tổn hại con người. Dù bị đồn đại tấn công và thậm chí giết chết người, thực tế, “chúng vô hại và tò mò với con người, bạn có thể bơi đến cạnh chúng”, Santoul chia sẻ.

Những giải pháp ít ỏi

Một số ví dụ cho thấy các loài cá ngoại lai lớn đã phá hủy hệ sinh thái nước ngọt: đến những năm 1980, cá rô sông Nile – loài được đưa vào hồ Victoria và các hồ Đông Phi khác cho môn câu cá những năm 1960 – đã gây sụt giảm nghiêm trọng về số lượng của ít nhất 200 loài cá nhỏ bản địa.

Tuy nhiên, thông thường, những quần thể cá nước ngọt cỡ lớn đang giảm sút, bị đe dọa bởi các loài ngoại lai, môi trường sống bị phá hủy và đánh bắt quá mức. Số lượng các cá thể này, thường được gọi là cá khổng lồ, đã giảm khoảng 94% từ năm 1970, theo một nghiên cứu năm 2019.

Nhờ khả năng thích ứng và sinh sản, “cá nheo Âu là một ngoại lệ giữa những loài cá lớn”, Zeb Hogan cho biết. Ông là nhà thám hiểm National Geographic và nhà sinh học cá ở Đại học Nevada, Reno, người sáng lập dự án Megafishes, nghiên cứu nhiều loài cá nước ngọt cỡ lớn trong sách đỏ ở vùng Mê Kông, Đông Nam Á.

Cá nheo Âu ngày càng có thêm thời gian sinh sản, khiến số lượng tăng lên nhanh chóng. Ảnh: Weather.

Toàn bộ hệ sinh thái nước ngọt cũng đang bị đe dọa nghiêm trọng, trong đó sự xâm nhập của các loài ngoại lai được xem là một nguyên nhân hàng đầu, Hogan cho biết.

Các nhà khoa học cảnh bảo sự thay đổi sinh thái học do biến đổi khí hậu và sự thay đổi nhanh chóng của mô hình, có thể tạo ra điều kiện thích hợp hơn nữa để cá nheo Âu lan rộng.

“Tác động của biến đổi khí hậu đến mỗi loài là khác nhau, với một số loài lạ có khả năng phân bổ lớn hơn so với loài bản địa”, Rob Britton, nhà sinh thái cá chuyên nghiên cứu về các loài ngoại lai tại Đại học Bournemouth, Anh, nhận định.

Hiện tại, nhiều bằng chứng cho thấy cá nheo Âu – loài cần nhiệt độ nước trên 20 độ C để sinh sản – đang bắt đầu chiếm đóng những dòng sông ở Bỉ và Hà Lan khi nước ở đó ấm lên, Santoul cho biết.

Đồng thời, tại Pháp, các loài cá nheo cũng sinh sản nhiều lần hơn, do thời gian sông ở đây có nước ấm cũng kéo dài hơn trong năm.

Trên bán đảo Iberia, nơi sinh sống của hơn 40 loài cá nước ngọt đặc hữu, những sinh vật ngoại lai đã khiến một loài tuyệt diệt. Emili García-Berthou, nhà thủy sinh thái học tại Đại học Girona, Tây Ban Nha, cho biết: “Chúng tôi dự đoán loài cá nheo, sau khi trở nên đông đúc tại nhánh chính của sông Ebro – nơi chúng được thả xuống đầu tiên – sẽ lan ra các vùng ở thượng nguồn.

Các nhà bảo tồn cho biết đến giờ vẫn chưa có giải pháp cho vấn đề này. Với ngành câu cá dạng bắt xong thả đang phát triển nhờ cá nheo Âu, chủ yếu ở Tây Ban Nha và Italy, chính phủ và các đơn vị nuôi cá không có động thái để loại bỏ loài này. Dù thường được dùng làm thực phẩm ở Đông Âu, chúng chưa phải là nguồn hải sản ở các khu vực khác của lục địa.

Ngư dân Kevin Weiss khoe con cá nheo bắt được tại sông Neckar, Đức. Ảnh: Spiegel.

Santoul nhấn mạnh rằng các quốc gia châu Âu cần hợp tác chặt chẽ hơn đển bảo tồn hệ sinh thái nước ngọt, cũng như quan tâm đến các mối đe dọa với các loài cá di trú. Ông cũng cho biết hiện thời chưa có nỗ lực diệt trừ loài ngoại lai này.

Ông chia sẻ: “Tôi lo ngại rằng, với những loài di trú mà số lượng đã giảm trước khi có cá nheo xuất hiện, nếu châu Âu không phối hợp để thực hiện các kế hoạch bảo tồn, sẽ quá trễ để cứu chúng”.

Nguồn: https://zingnews.vn/loai-ca-khong-lo-de-doa-he-sinh-thai-chau-au-post1194244.html

Quần thể cá mập, cá đuối giảm 70% trong nửa thế kỷ

0

Với tốc độ suy giảm nhanh như hiện nay, nhiều loài cá mập và cá đuối có thể biến mất hoàn toàn chỉ sau hai thập kỷ nữa.

Cá mập đầu búa lớn hiện được phân loại cực kỳ nguy cấp. Ảnh: Brian Skerry.

Cá mập đầu búa lớn hiện được phân loại cực kỳ nguy cấp. Ảnh: Brian Skerry.

Cá mập và cá đuối từng phân bố rộng khắp các đại dương trên thế giới, đến mức không chỉ ngư dân mà ngay cả một số nhà sinh vật học cũng không nghĩ rằng một ngày nào đó chúng có thể bị đe dọa do đánh bắt quá mức.

Tuy nhiên, trong một nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí Nature vào tuần trước, các nhà sinh vật học từ Đại học Simon Fraser ở Canada, do Nicholas Dulvy và Nathan Pacoureau dẫn đầu, nhận thấy rằng quần thể cá mập và cá đuối đã giảm tới 70% kể từ năm 1970. Với tốc độ đáng báo động này, nhiều loài có thể tuyệt chủng chỉ sau một đến hai thập kỷ nữa, điển hình là cá mập vây trắng đại dương (Carcharhinus longimanus).

“Khi thu thập số liệu về Carcharhinus longimanus, một loài cá mập phổ biến vào trước năm 1970, chúng tôi im lặng đến choáng váng”, Dulvy chia sẻ. “Quần thể loài đã giảm tới 98% trong 60 năm qua trên cả ba đại dương”.

Cá nhám búa và cá mập đầu búa lớn cũng có số phận tương tự. Những loài này thường không phải mục tiêu của các ngư dân khi ra khơi, nhưng nếu mắc lưới, chúng vẫn bị bắt để lấy vây, mang và gan.

Sự phát triển của các kỹ thuật đánh cá ngoài khơi, như lưới quây khổng lồ hay dây câu chứa hàng trăm chiếc móc – đã vô tình đánh bắt nhiều cá mập hơn. Thực tế, việc sử dụng chúng tăng gấp đôi trong nửa thế kỷ qua tương ứng với số lượng cá mập đại dương bị bắt tăng gấp ba lần.

Kỹ thuật đánh bắt cá phát triển khiến cá mập vô tình mắc lưới nhiều hơn. Ảnh: Sergei Krrasnoukhov.

Kỹ thuật đánh bắt cá phát triển khiến cá mập vô tình mắc lưới nhiều hơn. Ảnh: Sergei Krrasnoukhov.

Theo các chuyên gia, đây là một tin đáng lo ngại đối với sức khỏe đại dương vì những kẻ săn mồi đầu bảng này đóng một vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn, bằng cách kiểm soát những loài săn mồi nhỏ hơn.

Cùng với cá mập, cá đuối nhiệt đới cũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi hoạt động đánh bắt cá. Đồng tác giả của nghiên cứu Holly Kindsvater cho biết số lượng các loài cá đuối lớn đã giảm khoảng 85% chỉ trong 15 năm qua. Trước đây, chúng chỉ bị đánh bắt để lấy thịt nhưng bây giờ, các sản phẩm từ vây cá đuối cũng trở nên phổ biến trong y học cổ truyền Trung Quốc. Sự thay đổi này cho thấy cách ngư dân “xoay trục” sang các loài khác khi mục tiêu ban đầu của họ ngày càng khan hiếm.

“Tôi không nghĩ rằng có nhiều tàu thuyền trên biển chỉ nhắm vào cá mập và cá đuối. Tuy nhiên, khi những mục tiêu ban đầu như cá ngừ trở nên khan hiếm do đánh bắt quá mức, ngư dân sẽ bắt đầu đánh bắt những thứ khác và sẽ tìm ra cách để bán chúng”, Kindsvater giải thích.

Nhóm nghiên cứu hy vọng số liệu mà họ mới công bố sẽ thúc đẩy các chính phủ áp đặt nhiều quy định hơn để bảo vệ các loài cá mập và cá đuối nguy cấp. Bên cạnh lệnh cấm đánh bắt, những giải pháp bền vững khác như thành lập khu bảo tồn biển cũng rất cần thiết, bởi đó sẽ là nơi ẩn náu lý tưởng cho động vật.

Đoàn Dương (Theo National Geographic)

Nguồn: https://vnexpress.net/quan-the-ca-map-ca-duoi-giam-70-trong-nua-the-ky-4229523.html

Quá trình giết cá voi gây sốc ở Nhật Bản

0

Đoạn video 20 phút ghi lại cảnh ngư dân Nhật giết một con cá voi minke, bằng cách dìm nó dưới nước cho đến khi chết ngạt, khiến các nhà hoạt động bức xúc.

Mark Simmonds, nhà khoa học hàng hải tại Humane Society International (HSI), nói với BBC rằng ông không bất ngờ với những sự việc diễn ra trong video, được quay và chia sẻ trên mạng hồi cuối tháng 1.

“Đoạn phim có giá trị ở chỗ nó tường thuật lại toàn bộ quá trình giết con cá voi, để cả thế giới có thể cùng chứng kiến”, Simmonds nói.

Theo các nhà hoạt động, hàng chục con cá voi phải chịu cái chết đau đớn như vậy mỗi năm.

Chú cá voi Minke bị sa vào lưới và sau đó bị giết. Ảnh: BBC.

Các nhà hoạt động xã hội cho rằng việc đánh bắt cá voi tàn nhẫn hoàn toàn có thể ngăn chặn. Tuy nhiên, các ngư dân lại nhìn loài động vật có vú này như món quà mà biển cả ban tặng.

Truyền thống săn bắt cá voi của người Nhật

Nhật Bản, giống như một số quốc gia khác trên thế giới, có truyền thống săn bắt cá voi kéo dài hàng thế kỷ. Sau Thế chiến 2, khi nước này trải qua giai đoạn kinh tế khó khăn, thịt cá voi trở thành một mặt hàng chủ lực của Nhật Bản.

Tuy nhiên, đối với những người ủng hộ việc săn bắt cá voi, loài động vật không chỉ là món ăn được bày trên đĩa, mà còn là niềm tự hào dân tộc.

Trong hơn 30 năm trở lại đây, ngư dân Nhật Bản không được phép săn bắt cá voi ở ngoài khơi. Một thời gian dài đánh bắt quá mức khiến quần thể cá voi tại nước này đang bên bờ vực tuyệt chủng. Nhật Bản đã đăng ký với Ủy ban săn bắt cá voi quốc tế (IWC) để tránh trường hợp xấu nhất xảy ra.

Chú cá chết đi sau khi bị dìm dưới nước trong 20 phút. Ảnh: BBC.

Vào tháng 7/2019, các thuyền săn cá voi bắt đầu hoạt động trở lại, mặc cho nhu cầu đã giảm trên thị trường. Những người ủng hộ săn bắt chia sẻ với BBC rằng họ nhẹ nhõm vì “văn hoá và cách sống này sẽ được truyền lại cho các thế hệ sau”.

Tuy nhiên, lần này, chính phủ đưa ra những giới hạn nhất định trong việc săn bắt. Năm đầu tiên, ngư dân được phép khai thác 52 con minke bởi đây là loài không có nguy cơ tuyệt chủng. Ngoài ra, họ được phép săn bắt 150 con cá voi bryde và 25 con cá voi sei.

Tổng kết mùa đánh bắt năm 2019, ngư dân Nhật Bản được khai thác 227 con. Vào năm 2020 và 2021, giới hạn về số cá voi được đánh bắt tăng đến 383 con.

Có 3 nhóm bắt cá voi. Đầu tiên là nhóm đánh bắt chuyên nghiệp, kế đến là nhóm do chính quyền quản lý, và nhóm thứ ba là “bắt nhầm”. Năm 2020, 37 con cá voi bị làm thịt và bán ra bởi nhóm bắt nhầm này.

Cái chết thương tâm của cá voi minke

Cá voi minke trong video về cảnh đánh bắt gây sốc là một trong số 37 con bị bắt bởi nhóm “bắt nhầm”, theo BBC. Con vật được cho là chỉ tình cờ bơi nhầm chỗ và không đúng lúc.

Sau 30 năm, tàu thương mại cá voi hoạt động trở lại vào tháng 7/2019. Ảnh: BBC.

Ren Yabuki, người đứng đầu Cơ quan điều tra phi chính phủ về quyền động vật Nhật Bản (LIA), lần đầu tiên phát hiện con cá voi bị mắc kẹt trong lưới ở ngoài khơi Taiji (thị trấn nổi tiếng với hoạt động săn cá heo hàng năm The Cove) vào ngày 24/12.

Ban đầu, ông hy vọng ngư dân sẽ thả con cá voi. “Nhưng họ không làm vậy”, ông nhớ lại. Yabuki nghi ngờ ngư dân “không muốn thả lưới vì bên trong có quá nhiều cá”.

Trong 20 ngày sau đó, ông vận động đơn vị là chủ sở hữu tấm lưới để thả chú cá voi. Ông cũng đăng các video được ghi lại bằng máy bay không người lái của mình lên mạng.

Những đoạn video giúp nhiều người trên khắp thế giới chứng kiến sự tuyệt vọng của chú cá voi theo thời gian.

Dư luận nhiều nơi lên tiếng. Nhiều người bày tỏ mạnh mẽ quan điểm rằng phải đưa cá voi về với đại dương.

Nhưng sau đó, vào ngày 11/1, Yabuki bất lực nhìn hai chiếc thuyền ép chú cá vào giữa hai mạn tàu. Ông chứng kiến họ bắt và giữ đuôi chú cá voi, ghìm chặt đầu nó dưới nước khoảng 20 phút cho đến khi chú cá chết đi.

Vào lúc này, con thuyền dính đầy máu của con vật. Máu chảy ra khi cá voi vùng vẫy nhưng không thể thoát thân.

Cá voi bị sa vào lưới. Ảnh: BBC.

Vài ngày sau cái chết của cá voi minke, một video quay lén xuất hiện trên mạng xã hội, cho thấy cảnh thịt cá voi được đóng gói gọn gàng trong siêu thị địa phương với giá 398 yên (gần 4USD) cho 100 gram.

Tất nhiên, phần thịt được bày bán có thể không phải của con cá bị bắt ở ngoài khơi Taiji.

Đối với những người ủng hộ săn bắt cá voi, sau khi video của ông Yabuki về cảnh đánh bắt được chia sẻ, họ vẫn khẳng định không làm sai điều gì.

Hiệp hội Thủy sản Taiji lập luận rằng họ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc giết con cá voi. “Thủy triều lên nhanh và rất khó để thả con vật”, thông báo cho biết.

Thịt cá voi được bày bán tại chợ địa phương. Ảnh: BBC.

Hideki Moronuki, lãnh đạo tại Cơ quan Ngư nghiệp Nhật Bản, chia sẻ với BBC rằng có thể các ngư dân không còn cách khác để giết loài vật này, và họ buộc phải giết chúng trong nước biển.

“Tôi tin rằng hầu hết người Nhật nghĩ đó là cách duy nhất để giết cá voi mà không khiến nó bị kích động quá mức”, ông Moronuki nói.

Nhưng đối với ông Yabuki và ông Simmonds, điều đó thể hiện sự tàn bạo trong việc giết thịt các động vật.

“Tay tôi run lên vì khó chịu. Tôi rất buồn và rất tức giận”, ông Yabuki nói với BBC. “Tôi muốn giải cứu chú cá voi, và thả nó về biển cả. Nhưng tôi không thể làm được”.

Ông Simmonds cho biết thêm: “Thắt chặt đầu của một loài động vật có vú đã tiến hóa và dìm chúng dưới nước trong thời gian dài, khiến chúng dần cạn kiệt oxy, là một phương pháp tàn nhẫn nhất trên đời”.

Theo ông Moronuki, “một số người cảm thương với số phận con cá mắc kẹt trong lưới. Họ rất hy vọng chúng được thả về đại dương”.

Tuy nhiên, đối với những ngư dân trong nhóm “bắt nhầm”, mỗi con cá voi mắc kẹt trong lưới là một phần thưởng, bởi họ không có giấy phép để đánh bắt và kinh doanh cá voi.

“Do vậy, rất nhiều người cho rằng cá voi là một món quà từ đại dương và phải được khai thác triệt để như một cách thể hiện lòng biết ơn với tự nhiên”, ông Moronuki nói.

Theo ông Simmonds, thuật ngữ “bắt nhầm” để nói về việc đánh bắt cá voi vô tình và không nằm trong ý muốn. “Tuy nhiên, việc săn bắt tại Nhật Bản không nằm trong phạm vi này. Đó hoàn toàn là việc có thể đoán trước và có chủ ý”.

Nguồn: https://zingnews.vn/qua-trinh-giet-ca-voi-gay-soc-o-nhat-ban-post1179544.html

Con người đã đóng vai trò gì trong sự tuyệt chủng của các loài hiện đại?

0

Danh sách Đỏ của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) về các loài bị đe dọa hiện đã vượt quá con số 35.500 loài.

Chỉ trong 50 năm, 70% số lượng cá mập trên toàn thế giới đã biến mất.

Tại sao mỗi người lại có một đặc điểm riêng trên khuôn mặt, không ai giống ai 100%?

Phát hiện dấu tích của loài sâu ăn thịt dưới đáy biển

Con người đã đóng vai trò gì trong sự tuyệt chủng của các loài hiện đại ? (Ảnh: Science ABC)

Con người đã đóng vai trò gì trong sự tuyệt chủng của các loài hiện đại ? (Ảnh: Science ABC)

Người ta ước tính rằng trong 3,5 tỷ năm qua, khoảng 4 tỷ loài đã tiến hóa trên Trái đất, và điều gây sốc hơn nữa là khoảng 99% trong số đó không còn tồn tại. Trong 540 triệu năm qua, trái đất đã trải qua 5 lần tuyệt chủng quy mô lớn của các quần thể sinh vật – những quần thể sinh vật được mệnh danh là “Big Five”.

Hiện nay, khi tốc độ tuyệt chủng ngày càng tăng, các nhà khoa học lo ngại rằng chúng ta đang tiến gần đến đợt tuyệt chủng hàng loạt lần thứ sáu, và chính con người đã gây ra thảm họa này.

Con người đã đóng vai trò gì trong sự tuyệt chủng của các loài hiện đại? ảnh 1Những quần thể sinh vật được mệnh danh là “Big Five” (Ảnh: Science ABC)

Các loài tuyệt chủng do con người tạo ra không phải là duy nhất trong thời hiện đại. Nhà cổ sinh vật học Julian Hume (Julian Hume) tin rằng vấn đề này bắt đầu từ 125.000 năm trước, khi con người lần đầu tiên bắt đầu rời châu Phi và di cư đến châu Á, châu Âu, Bắc và Nam Mỹ, và châu Đại Dương.

Hồ sơ hóa thạch chỉ ra rằng số lượng các loài động vật lớn tuyệt chủng ở những khu vực này đã tăng lên đáng kể trong hàng trăm đến một nghìn năm sau khi con người xuất hiện. Tốc độ tuyệt chủng đáng báo động này có thể so sánh với sự tuyệt chủng của các loài khủng long.

Điều gì khiến những loài động vật dễ bị con người tác động như vậy?

Những người di cư có thể coi động vật địa phương là thức ăn hoặc mối đe dọa. Tuy nhiên, những con vật này chưa bao giờ chạm trán với con người trước đây, do đó chúng sẽ không nhận ra rằng con người là kẻ săn mồi tiềm năng. Điều này khiến chúng đặc biệt dễ bị tấn công và con người nhanh chóng lợi dụng điều này để săn bắt chúng.

Ngoài ra, các đám cháy do con người gây ra đã phá hủy môi trường sống rộng lớn và tăng cường sự cạnh tranh đối với các loài động vật lớn để kiếm ăn ở một số khu vực nhất định. Không lâu sau, số lượng các loài động vật này giảm mạnh. Những loài động vật ăn cỏ lớn, chẳng hạn như tê giác lông dài và voi ma mút, không thể phục hồi sau khi suy giảm mạnh vì chúng sinh sản chậm hơn nhiều so với những loài động vật nhỏ. Chúng không còn cách nào khác là phải rời bỏ nơi sinh sống, nhưng vào thời điểm đó, hầu như không có nơi nào trên trái đất mà con người chưa từng đặt chân đến.

Con người đã đóng vai trò gì trong sự tuyệt chủng của các loài hiện đại? ảnh 2Sơ đồ di cư của con người (Ảnh: Science ABC)

Là loài động vật thông minh nhất hành tinh, con người có thể tiếp tục học hỏi, tìm ra những cách mới để giải quyết vấn đề, đồng thời suy ngẫm và đánh giá sâu sắc công việc của mình. Đây chỉ là một vài khía cạnh xác định trí thông minh của con người. Trên thực tế, mọi người tiếp tục lặp lại những sai lầm trong quá khứ hết lần này đến lần khác. Những hành động này đã dẫn đến sự tuyệt chủng của nhiều loài, ví dụ như hà mã ở Madagascar đã tuyệt chủng cách đây 1.000 năm, chim Moa ở New Zealand đã tuyệt chủng 600 năm trước, và loài chim bồ câu lữ khách đã biến mất cách đây 106 năm.

Con người đã đóng vai trò gì trong sự tuyệt chủng của các loài hiện đại? ảnh 3Một gia đình người Neanderthal mặc đồ lông động vật và nấu thịt chúng (Ảnh: Science ABC)

Con người cần phải chịu trách nhiệm về vai trò của mình đối với sự tuyệt chủng của các loài này. Hiểu biết toàn diện về cách các hoạt động của con người ảnh hưởng đến hệ sinh thái sẽ là bước đầu tiên theo hướng này. Cuối cùng, chúng ta có thể điểm lại sự tuyệt chủng của một số loài trong vài thế kỷ qua.

Bò biển khổng lồ (tuyệt chủng năm 1768)

Con người đã đóng vai trò gì trong sự tuyệt chủng của các loài hiện đại? ảnh 4Loài bò biển khổng lồ (Ảnh: Science ABC)

Bò biển khổng lồ hay còn gọi cá nược khổng lồ và lợn biển Stella, thuộc họ cá nược, bộ lợn biển. Chúng có thể dài tới 10 mét và nặng từ 5 đến 10 tấn. Bộ lợn biển chỉ có 4 thành viên, gồm bò biển (thuộc họ cá nược) và 3 loài (thuộc họ lợn biển), sống ở Đại Tây Dương. Những loài này sống ở vùng biển nhiệt đới ấm áp, trong khi lợn biển khổng lồ sống ở vùng nước cận cực lạnh giá của Bắc Thái Bình Dương. Để tồn tại trong giá lạnh, bò biển khổng lồ đã phát triển một số đặc điểm thích nghi, chẳng hạn như lớp mỡ dày.

Mãi đến năm 1741, một đoàn thám hiểm của hải quân Nga bị mắc kẹt ở eo biển Bering, nhà tự nhiên học George Stella đi cùng họ mới lần đầu tiên khám phá ra loài động vật hùng vĩ này. Trên thực tế, đoàn thám hiểm này đã sống sót nhờ ăn thịt của những con vật vô tội này.

Giống như gia súc trên cạn, lợn biển thường tụ tập thành đàn, đây là loài động vật ăn cỏ chậm chạp và thân thiện nên dễ bị con người săn bắt. Có một câu nói phổ biến của một trong những thủy thủ chạy trốn khỏi hòn đảo: Một con bò biển lớn có thể nuôi 33 người một tháng, và chất béo của nó thậm chí có mùi như dầu hạnh nhân. Các năm sau đó, nhiều đoàn thám hiểm và thợ săn mới đổ xô đến khu vực Biển Bering để săn những loài động vật này với số lượng lớn.

Một số nhà nghiên cứu cho rằng yêu cầu về lông của rái cá biển châu Âu cũng sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại của bò biển khổng lồ, vì rái cá biển sẽ bắt nhím biển và giảm số lượng rái cá, điều này sẽ khiến cá nược chịu áp lực do thiếu thức ăn. Vào năm 1768, chỉ 27 năm sau khi được phát hiện, loài lợn biển khổng lồ cuối cùng đã bị tuyệt chủng do bị săn bắt quy mô lớn.

Great Auk (tuyệt chủng năm 1850)

Con người đã đóng vai trò gì trong sự tuyệt chủng của các loài hiện đại? ảnh 5Loài Great Auk (Ảnh: Science ABC)

Đây là loài chim không thể bay trên biển và trông giống như một con chim cánh cụt. Chúng đã phân bố trên nhiều hòn đảo ở Bắc Đại Tây Dương, và số lượng của chúng có thể lên tới một triệu con khi chúng sinh sản. Những con chim này đi rất chậm và không sợ con người, vì vậy thịt và trứng của chúng dễ dàng bị lấy bởi những thủy thủ đi ngang qua.

Vào khoảng năm 1500, các thủy thủ châu Âu đã tìm thấy những ngư trường béo bở ở Newfoundland, và hoạt động săn bắt cá lớn cũng bắt đầu gia tăng. Vào thế kỷ 18, người châu Âu tăng nhu cầu về lông vũ của những chú chim lớn. Do sự tàn phá và săn bắt tùy tiện của con người và sự phát triển quy mô lớn của môi trường sống, số lượng cá vược ngày càng giảm dần. Điều đáng tiếc hơn nữa là loài Great Auk cũng theo đó mà nổi tiếng vì bộ lông, trứng, và toàn bộ mẫu vật của chúng đều rất quý giá. Vào năm 1850, cặp chim Great Auk lớn cuối cùng được tìm thấy trên một hòn đảo đá gần Iceland khi vẫn đang ấp trứng. Theo yêu cầu của một thương gia – người muốn lấy những mẫu vật của loài Great Auk về sưu tập, hai con chim trên đã dễ dàng bị giết và trứng của chúng đã bị đập vỡ.

Con người đã đóng vai trò gì trong sự tuyệt chủng của các loài hiện đại? ảnh 6Con rùa cuối cùng trên hòn đảo Pinta (Ảnh: Science ABC)

Thảm kịch tương tự lại xảy ra vào năm 2012. Con rùa cuối cùng của Đảo Pinta “Lonely George” đã chết tại Vườn quốc gia Galapagos sau gần một trăm năm tuổi thọ. Loài này được các nhà tự nhiên học mô tả lần đầu tiên vào năm 1877, và đến cuối thế kỷ 19, sự săn bắt của con người đã giết chết hầu hết các loài rùa biển trên đảo Pinta. Sự du nhập của các loài ngoại lai (như dê) cũng ảnh hưởng đến các loài rùa còn lại.

Cá nhộng Tecopa (tuyệt chủng năm 1970)

Con người đã đóng vai trò gì trong sự tuyệt chủng của các loài hiện đại? ảnh 7Cá nhộng Tecopa có nguồn gốc từ Thung lũng Chết trên sa mạc Mojave, California, Mỹ, có thể sống được trong nước ấm ở nhiệt độ 42 độ C. Loài cá nhỏ này mãi đến thế kỷ 19 mới được các nhà khoa học phát hiện. Chúng chỉ tồn tại ở hai suối nước nóng chảy ra từ hệ thống sông Amaragoza. Vào giữa thế kỷ 20, các hoạt động phát triển của con người gần suối nước nóng Tecopa đã hợp nhất hai đường nước suối nóng để phục vụ các phòng tắm công cộng. Kết quả là môi trường này không còn thích hợp cho sự sống của loài cá quý hiếm này.

Sự thay đổi môi trường sống này và sự xâm nhập của các loài cá không phải bản địa vào hệ thống sông đã dẫn đến sự suy giảm mạnh số lượng loài Cyprinodon nevadensis calidae, loài được xếp vào danh sách các loài có nguy cơ tuyệt chủng vào năm 1970. Năm 1981, Cơ quan Cá và Động vật Hoang dã Hoa Kỳ tuyên bố loài này đã tuyệt chủng.

Lòng tham và sự coi thường của con người đối với môi trường đã dẫn đến sự tuyệt chủng của nhiều loài, trên đây chỉ liệt kê một số loài bị tuyệt chủng. Con người có thể quy những sai lầm trong quá khứ là do thiếu hiểu biết về sự cân bằng mong manh của hệ sinh thái. Danh sách Đỏ của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) về các loài bị đe dọa hiện đã vượt quá con số 35.500 loài. Mặc dù mục đích của danh sách này là ngăn chặn các loài tuyệt chủng, nhưng ở một mức độ nào đó, nó đã trở thành danh sách quốc tế về các loài đã tuyệt chủng.

Là loài động vật “thông minh” nhất trên trái đất, đã đến lúc con người phải đứng lên và chung sức để bảo vệ sự đa dạng sinh học của trái đất.

Theo Science ABC

Nguồn Bài Dịch: Viettimes (https://viettimes.vn/con-nguoi-da-dong-vai-tro-gi-trong-su-tuyet-chung-cua-cac-loai-hien-dai-post142766.html)

Hàng nghìn con gà hoang sống trên hòn đảo ở Mỹ

0

Du khách đến Kauai (Hawaii, Mỹ) dễ dàng bắt gặp hình ảnh gà hoang lang thang trên bãi biển, tụ tập ở trạm xăng, bãi giữ xe… Loài vật thu hút nhiều người tò mò tìm đến hòn đảo.

Kauai là hòn đảo lớn thứ tư và lâu đời nhất ở Hawaii. Nơi đây được bao phủ bởi thung lũng xanh mướt, ngọn núi sắc nhọn và những vách đá lởm chởm độc đáo. Nhiều thế kỷ phát triển, hòn đảo nhiệt đới vẫn giữ cho mình vẻ quyến rũ, bí ẩn. Điểm đến được mệnh danh là viên ngọc ẩn đối với giới du lịch. Ảnh: Kauai Lead.

Du khách đến đây có thể bỏ lại cuộc sống tất bật vốn có khi đắm mình trong làn nước mặn ấm áp hay đi dọc bãi cát vàng. Hơn 90% hòn đảo không thể đến được bằng đường bộ, bao gồm cả phần đẹp nhất. Ảnh: Madeline Lu.

Bên cạnh vẻ đẹp thiên nhiên, hòn đảo còn nổi tiếng là ngôi nhà của hàng nghìn con gà hoang. Chúng thường tụ tập ở các bãi đậu xe, đi chơi trên bờ biển và lang thang trong rừng. Không có động vật ăn thịt tự nhiên, những con gà này đang sinh sôi ở mức báo động. Chúng ăn rác, đồ ăn mèo, kiếm mồi như các loài bản địa khác. Nhiều người đến đảo thích thú dùng đồ ăn dụ gà tới gần để chụp ảnh check-in. Ảnh: Nytimes.

Hầu hết cư dân cho rằng việc bầy gà đi lại trên đường phố không có gì to tát. Một số khác tỏ ra khó chịu khi gà bới khu đất trồng trọt của nông dân, đánh thức du khách từ 4h30 sáng mỗi ngày… Nhiều người thậm chí chuyển đi nơi khác sống. Mặt khác, gà hoang giúp người dân trên đảo tiêu diệt loài rết Hawaii nguy hiểm. Ảnh: Kauai Blog.

Có hàng nghìn con gà hoang sống ở Kauai nhưng nguồn gốc của chúng từ lâu vẫn là điều bí ẩn. Người dân địa phương truyền tai nhau, trận bão Iwa (1982) và Iniki (1992) đã phá hủy chuồng trại trong khu vực, các con gà có cơ hội chạy vào rừng. Chúng giao phối với gà rừng đỏ hoang dã và phát triển như ngày nay. Không ai trên đảo nghĩ đến việc sử dụng gà hoang làm thức ăn vì phần thịt cứng, dai. Ảnh: BackYard Chickens.

Số lượng gà hoang khổng lồ thu hút du khách. Chúng được coi là dấu ấn văn hóa, một phần biểu tượng của hòn đảo. Các cửa hàng lưu niệm kiếm sống nhờ việc bán áo phông, cốc cà phê, huy hiệu in hình những chú gà. Ảnh: Aloha Pest Solutions.

Tiểu bang duy nhất của Mỹ bao quanh là biển Đảo Hawaii là điểm đến nổi tiếng có sức hút với các cặp đôi hoặc dân mê lướt sóng. Nơi đây sở hữu cảnh quan tuyệt đẹp, được mệnh danh hòn ngọc trên biển Thái Bình Dương.

Nguồn: https://zingnews.vn/hang-nghin-con-ga-hoang-song-tren-hon-dao-o-my-post1171343.html

Bài viết mới