Home Blog Page 10

So sánh sức mạnh giữa sư tử và linh cẩu

0
(L) Giles Laurent | (R) Kongkham6211 / Wikimedia Commons / CC BY-SA 4.0
[poll id=”3″]

Có rất nhiều cuộc chiến giữa sư tử và linh cẩu đã được quan sát và ghi nhận. Cả hai đều có những đặc điểm độc đáo riêng, và hành vi lối sống cũng khác biệt nhau rất nhiều.

Sư tử châu Phi là những sinh vật mạnh mẽ thường tấn công và giết chết con mồi trong vòng vài phút. Còn linh cẩu được biết là loài chuyên thu dọn xác thối và ăn bất cứ thứ gì có thể ăn được. Đôi khi linh cẩu cũng săn mồi nhưng do tốc độ di chuyển thấp, nên chúng chỉ có thể giết được những con vật già hoặc bị bệnh.

Cả linh cẩu và sư tử đều hạn chế tấn công nhau, linh cẩu thường cướp thức ăn từ sư tử. Điều này xảy ra trong vài phút khi sư tử vừa săn mồi và bị kiệt sức vì truy đuổi.

So sánh sư tử và linh cẩu

Những đặc điểm nổi bật của Sư tử

  • Tên khoa học: Panthera leo.
  • Có hai phân loài còn tồn tại: Sư tử châu Phi và Sư tử châu Á.
  • Sư tử châu Á được tìm thấy ở Ấn Độ trong khi sư tử châu Phi được tìm thấy ở thảo nguyên đồng cỏ / rừng và rừng ở Đông, Trung và Nam Phi.
  • Các quốc gia nơi có sư tử châu Phibao gồm Cộng hòa Trung Phi, Angola, Kenya, Nam Phi, Zimbabwe, Mozambique, Tanzania và Botswana.
  • Sư tử châu Á lớn hơn những con châu Phi.
  • Sư tử đực châu Phi lớn hơn sư tử cái.
  • Sư tử đực châu Phi trưởng thành nặng từ 150 đến 250 kg.
  • Sư tử cái châu Phi trưởng thành nặng từ 120 đến 180 kg.
  • Chiều dài từ 1,4 đến 3 mét.
  • Chiều cao vai là từ 1 đến 1,2 mét.
  • Đuôi sư tử châu Phi dài từ 0,7 đến 1 m.
  • Sư tử đực có thể dễ dàng phân biệt bằng bờm quanh đầu.
  • Các con mồi bao gồm ngựa vằn, linh dương đầu bò, dê, linh dương, trâu và các động vật hoang dã và thuần hóa khác.
  • Là động vật xã hội sống theo nhóm.
  • Một đàn sư tử có thể có tới 40 thành viên bao gồm khoảng 3 con đực trưởng thành, một vài con cái và đàn con.
  • Tuổi trưởng thành tình dục là từ 3 đến 4 năm.
  • Thời gian mang thai là 4 tháng.
  • Cân nặng lúc mới sinh khoảng 1,5 kg.
  • Mối đe dọa lớn nhất đối với sự sống còn của chúng là hoạt động của con người bao gồm cả săn bắn.
  • Số lượng sư tử đã giảm đáng kể trong nhiều năm qua và hiện ở mức từ 30.000 đến 100.000 cá thể.
  • Với số lượng chỉ còn 300 cá thể, sư tử châu Á được phân loại là loài có nguy cơ tuyệt chủng.
  • Sư tử cái thường đảm nhận việc săn bắn trong khi con đực bảo vệ đàn.
  • Cơ thể của sư tử và hổ rất giống nhau đến mức gần như không thể phân biệt được chúng nếu chúng bị cạo lông hoặc lột da.
  • Có thể nhảy xa tới 11 mét khi chạy.
  • Có tốc độ tối đa khoảng 80 km / h.
  • Màu lông: vàng.
  • Chúng là động vật xã hội duy nhất trong họ các loài mèo.
  • Một tiếng gầm của sư tử có thể được nghe thấy cách đó 8 km.
  • Thời gian mang thai là 3,5 tháng.
  • Sinh sản hai năm một lần.
  • Con cái sinh không quá 4 con non trong mỗi chu kỳ.
  • Khoảng 80% sư tử con không sống sót quá 2 năm tuổi.
  • Tuổi thọ trong tự nhiên là 16 năm, tuổi thọ lúc nuôi nhốt là khoảng 20 năm.
  • Hầu hết sư tử đực không sống quá 12 năm.
  • Thông thường chúng ngủ từ 16 đến 20 giờ mỗi ngày.

Những đặc điểm nổi bật của Linh cẩu

  • Tên khoa học là Crocuta crocuta.
  • Có 3 loài linh cẩu khác nhau bao gồm linh cẩu sọc, linh cẩu nâu và linh cẩu đốm.
  • Loài lớn nhất là linh cẩu đốm.
  • Kể thù trong tự nhiên là sư tử và chó hoang châu Phi.
  • Chúng là loài ăn thịt cả đồng loại.
  • Giao tiếp với nhau bằng cách sử dụng kết hợp các âm thanh, tín hiệu và cử chỉ khác nhau.
  • Chúng có tính lãnh thổ rất cao, thường sử dụng một chất dịch bài tiết từ hậu môn có mùi mạnh để đánh dấu lãnh thổ.
  • Chúng thường sinh hoạt, săn mồi vào ban đêm và nghỉ ngơi vào ban ngày.
  • Con đực nhỏ hơn con cái.
  • Con cái chiếm ưu thế và hung dữ hơn con đực.
  • Cuộc sống xã hội thành nhóm lên tới 80 thành viên do một con cái đứng đầu.
  • Có thể phát triển tới chiều cao 0,9m, chiều dài hơn 1,5m và nặng tới 80kg.
  • Chúng là loài ăn xác thối và đôi lúc cũng đi săn.
  • Có bộ hàm khỏe để gặm nát xương và chúng ăn tất cả các bộ phận của con mồi.
  • Tuổi thọ khi sống ngoài hoang dã là khoảng 12 năm, khi được nuôi nhốt thì chúng có thể sống tới 25 năm.
  • Thời gian mang thai là từ 90 đến 110 ngày.
  • Con cái sinh sản tối đa 4 con.
  • Đôi khi linh cẩu con giết nhau trong khi tranh giành thức ăn từ mẹ chúng.
  • Tuổi cai sữa khoảng 1 tuổi rưỡi.
  • Bộ phận sinh dục của cả linh cẩu đực và cái gần như giống nhau ở bên ngoài.
  • Con cái có một dương vật giả, một âm vật.
  • Chúng dễ dàng thích nghi và sinh sống ở các khu vực khí hậu, địa lý khác nhau, chủ yếu ở thảo nguyên châu Phi, núi, sa mạc, v.v.
  • Mặc dù trông giống loài chó, nhưng cấu trúc di truyền của chúng gần với loài mèo hơn là chó.
  • Linh cẩu là loài động vật rất thông minh. Một số cá thể còn thông minh hơn cả loài tinh tinh.

[table id=3 /]

Cuộc đọ sức giữa Sư tử và Linh cẩu

Sư tử luôn là những kẻ chiến thắng bất cứ khi nào chúng chiến đấu với Linh cẩu. Sư tử châu Phi là một sinh vật mạnh mẽ với kỹ năng tấn công áp đảo khiến linh cẩu khó có thể vượt qua được. Khi chiến đấu, sư tử thường vồ lấy linh cẩu, cắn vào cổ cho đến khi đối thủ chết ngạt.

Mặc dù linh cẩu thường thua những trận đánh một vs một này, nhưng chúng hề không dễ dàng để bị đánh bại. Chúng có bộ hàm mạnh mẽ có thể xé toang một con sư tử.

Lực cắn và giữ chặt hàm răng ngập vào cơ thể sử tử được tính toán trên dưới một tấn lực (cần bổ sung thêm). Khi có đông thành viên, chúng sẽ ép buộc sư tử phải chiến đấu đến kiệt sức và bị thương.

Chỉ cần một sai lầm đơn giản của sư tử cũng có thể khiến nó bị giết vì linh cẩu không phải là sinh vật có thể dễ dàng bỏ cuộc sớm. Nhưng cơ hội duy nhất để một con linh cẩu chiến thắng một đấu một, đó là lúc nó chiến đấu với một con sư tử già ốm yếu hoặc sư tử còn trẻ và non kinh nghiệm.

Linh cẩu thường phải dựa vào số đông để áp đảo được sư tử. Tuy nhiên với tốc độ và sức mạnh của một con sư tử đã trưởng thành khiến linh cẩu khó có khả năng tiếp cận được, chứ đừng nói đến chuyện hạ gục sư tử.

Các động vật có vú thời kỳ tiền sử

0

Giới thiệu về các loài động vật có vú thời tiền sử như tê giác lông mượt, sư tử và báo cheetah ở châu mỹ. Các loài linh cẩu và cả lợn rừng cổ đại.

1Tê giác lông mượt Coelodonta

Hình ảnh loài Tê giác lông mượt Coelodonta

Coelodonta là một trong những động vật có vú đại diện cho “thời kỳ băng hà”, chúng được gọi với cái tên Tê giác lông mượt. Coelodonta giống như những loài tê giác châu Phi to lớn mà chúng ta biết ngày nay, điểm khác biệt là bộ lông bao trùm cơ thể nó. Đây là sự thích nghi sinh tồn chính của loài tê giác lông mượt sống ở toàn bộ vùng lục địa Á-Âu trong hơn 2 triệu rưỡi năm.

Đến hiện tại chúng ta vẫn chưa biết rõ thức ăn của chúng là loại cây cỏ nào. Một số cho rằng chúng ăn cỏ giống như loài bò, một số khác nhận định chúng ăn là các loài cây thấp.

Với lớp lông dày chúng đáp ứng được cuộc sống của thời kỳ băng giá, không khí được giữ lại lâu hơn ở dưới lông, giúp thân nhiệt được ổn định và ấm hơn.

Kích thước cơ thể và vị tria địa lý của loài Tê giác lông mượt

Kích thước của loài tê giác lông mượt so với người cáo 1,8m

Coelodonta là một loài động vật có vú lớn có chiều dài khoảng 4-5 mét. Giống như tê giác thời hiện đại, tê giác lông mượt rất khỏe mạnh và nặng khoảng 2-3 tấn. Nó sống ở châu Âu, Nga và châu Á trong thời kỳ cuối Thế Pliocen (thế thứ hai của kỷ Tân Cận), khoảng 3-4 triệu năm trước.

2Chó gấu Amphicyon

Amphicyon được biết đến với cái tên chó gấu, chúng được gọi như vậy vì cơ thể to lớn vô cùng mạnh mẽ với vẻ ngoài của loài gấu, mặc dù đầu chúng trông giống chó hơn. Dù vậy chúng thực sự không phải là loài chó, tuy có sống cùng với các loài liên quan đến họ nhà chó.

Chúng là loài săn mồi thống trị vùng đất Bắc Mỹ cho đến khi xuất hiện những kẻ săn mồi mới và các loài vật họ mèo. Một số nhà nghiên cứu cho rằng chúng là loài ăn tạp nhưng có xu hướng ăn thịt nhiều hơn. Với kích thước khá lớn khiến chúng có khả năng áp đảo nhiều con mồi tiềm năng, đặc điểm cơ thể giúp chúng đánh vật con mồi xuống đất.

Kích thước và vị trí địa lý của loài chó gấu Amphicyon

Kích thước của loài chó gấu

Amphicyon là một loài động vật săn mồi có vú khá lớn với chiều dài khoảng 3-4 mét và nặng gần 600kg. Chúng sống ở Châu Âu, Trung Đông, Châu Á, Bắc Mỹ và Nam Phi trong thời kỳ đầu Miocene, khoảng 20-23 triệu năm trước.

3Quái thú khủng khiếp Deinotherium

Hình ảnh minh họa loài Hai điều làm cho Deinotherium.

Hai điều khiến cho Deinotherium nổi bật so với loài voi là hai chiếc ngà hướng xuống và uốn cong lại theo hình vòng cung, đầu mũi hướng về phía bàn chân. sự sắp xếp cơ thể kỳ lạ này đã gây rất nhiều trở ngại cho các nhà cổ sinh vật. Họ đã sắp xếp nhầm đảo ngược hướng của chiếc ngà.

Trong khi voi và voi ma mút thường dùng ngà để lấy thức ăn thì một số giả thuyết cho rằng Deinotherium dùng ngà để đào bới các loại củ dưới đất, hoặc móc các cành cây kéo xuống để chiếc vòi dễ lấy lá hơn

Kích thước và vị trí địa lý của loài Deinotherium

Kích thước của loài Deinotherium rất khổng lồ! Nó cao từ 4-5 mét và dài khoảng 7 mét. Ước tính trọng lượng khoảng 11 tấn. Nó sống ở Châu Phi, Châu Âu và Châu Á trong thời kỳ Pliocene, khoảng 1-4 triệu năm trước.

4Linh cẩu hang động

Linh cẩu hang động, hay còn được gọi là linh cẩu đốm thời kỳ băng hà. Đúng với tên gọi, chúng sống ở trong hang, đôi khi khí hậu tốt hơn, chúng cũng sống ở ngoài vùng thông thoáng. Chúng đã trú ẩn trong hang để tránh khỏi điều kiện khí hậu tồi tệ nhất trong thời kỳ băng giá của kỷ băng hà Pleistocene.

Đây là một môi trường an toàn hơn cho chúng để nuôi con, cũng như kéo xác và xương động vật về hang để gặm nhấm lúc rảnh rỗi. Linh cẩu hang động là động vật săn mồi, kiêm việc ăn xác thối của vùng đồng bằng giống y hệt như họ hàng chúng ngày nay. Trong khi linh cẩu được biết đến nhiều hơn với hành vi ăn cắp con mồi của loài khác, thì linh cẩu hang động tự săn bắt những con mồi cho mình.

Linh cẩu hang có mối liên hệ mật thiết với loài vượn nhân Neanderthal, họ hàng liên quan chặt chẽ với tổ tiên của người hiện đại. Khu vực xung đột giữa vượn nhân Neanderthal và linh cẩu hang động là khu vực có những chiếc hang, hai loài luôn cạnh tranh để chiếm được hang ổ trú ẩn tốt nhất. Đã có bằng chứng về sự tiếp quản sử dụng hang động khi một trong hai loài rời bỏ, thì loài kia sẽ thay thế.

Kích thước và vị trí địa lý của loài linh cẩu hang động

Linh cẩu hang động là một loài săn mồi lớn, cao khoảng 1 mét ở vai và dài khoảng 1,5 mét. Ước tính trọng lượng của linh cẩu hang động là khoảng 225kg. Nó sống ở châu Âu và châu Á trong thời đại Pleistocene, khoảng 500.000 đến 2 triệu năm trước.

5Lợn trâu Entelodon

Lợn trâu Entelodon hay còn được gọi là lợn sát thủ, cùng với loài lợn Daeodon, chúng tung hoành khắp khu vực Bắc Mỹ. Chúng là sinh vật có kích thước lớn nhất trong họ lợn sát thủ Entelodont.

Sự phân bố rộng rãi của các loài lợn trâu Entelodon trên khắp lục địa Á-Âu cho thấy rằng chúng là loài động vật sinh sống rất thành công. Thành công này có thể là nhờ chế độ ăn tạp, nghĩa là Entelodon có khả năng chuyển đổi và thích nghi với các nguồn thức ăn khác nhau. Ngoài ra, kích thước to lớn của chúng khiến ít khi bị loài khác ăn thịt.

Kích thước và vị trí địa lý của loài Lợn trâu Entelodon

Entelodon là loài động vật có vú lớn có chiều dài khoảng 3 mét, cao khoảng 1 mét rưỡi và nặng khoảng 455kg. Chúng sống ở châu Âu và châu Á trong thời đại Paleogen, khoảng 28-41 triệu năm trước.

6Linh cẩu răng Hyaenodon

Hình ảnh minh họa loài Linh cẩu răng Hyaenodon

Mặc dù được gọi là linh cẩu răng nhưng chúng chỉ có chung với loài linh cẩu ngày nay ở hai đặc điểm là động vật có vú và chuyên ăn thịt. Hyaenodon là kẻ săn mồi hàng đầu trong thời đại của nó với kích thước cơ thể to lớn. Chìa khóa thành côngcủa chúng là chiếc đầu lớn, so với các loài động vật ngày nay thì nó quá lớn, khó tương xứng với cơ thể.

Các gai thần kinh của đốt sống lưng trước mở rộng nhằm làm tăng gắn kết các cơ cổ, giúp hộp sọ có khả năng to lớn hơn bình thường.

Trong các giác quan của Linh cẩu răng, khứu giác điểm mạnh nhất của chúng. Hyaenodon theo dõi con mồi bằng mùi hương, chúng có thể xác định con vật nào ốm và yếu hơn những con khác.

Kích thước và vị trí địa lý của loài Linh cẩu răng Hyaenodon

Hyaenodon là loài săn mồi lớn sống ở Bắc Mỹ, Châu Âu, Châu Á và Châu Phi trong thời đại Paleogen, khoảng 20-33 triệu năm trước. Nó có chiều dài khoảng 2 mét và nặng khoảng 455kg.

7Báo Cheetah Châu Mỹ ‬Miracinonyx

Hình ảnh minh họa loài báo cheetah châu mỹ

Chúng thường được biết đến với tên gọi American Cheetah, loài báo ‬Miracinonyx được cho là tổ tiên của loài sư tử núi cougar ở Châu Mỹ. Chúng là chuyên gia săn mồi tốc độ cao. Với một khuôn mặt ngắn, khoang mũi mở rộng cho phép chúng hít được nhiều không khí vào phổi trong khi chạy. Điều này sẽ làm giảm lượng hô hấp yếm khí trong cơ bắp, từ đó sẽ làm giảm sự tích tụ axit lactic, có nghĩa là Miracinonyx có thể chạy nhanh hơn trong thời gian dài hơn khi chúng đuổi theo con mồi.

Ví dụ như lúc chúng ta luyện tập thể thao liên tục, đến lúc nào đó phải tạm dừng lại vì cơ bắp mệt mỏi, đó là do sự tích tụ axit lactic gây ra bởi cơ bắp của bạn không được cung cấp oxy đủ nhanh. Mặc dù báo cheetah châu mỹ có thể tận dụng được tốc độ, nhưng cũng chỉ ở mức hữu hạn, chúng có xu hướng tăng tốc như vận động viên chạy nước rút giai đoạn cuối hơn là chạy marathon với tốc độ cao. Điều này khá giống với báo cheetah ở châu Phi ngày nay.

Báo cheetah Châu Mỹ vẫn phải dùng mưu mẹo để bắt được con mồi, chúng cũng phải ẩn nấp lựa thời điểm tấn công, trốn cuối hướng gió và tận dụng cây bụi. Chỉ khi ở gần mục tiêu, chúng mới tấn công.

Kích thước và vị trí địa lý của loài báo cheetah Châu Mỹ

Báo Cheetah Châu Mỹ có kích thước rất giống với loài báo ngày nay. Nó dài từ 1-2 mét và nặng khoảng 90kg. Nó sống ở Bắc Mỹ trong thời đại Pleistocene, khoảng 10.000-100.000 năm trước.

8Sư tử Châu Mỹ

Sư tử châu Phi có thể chạy với tốc độ cao nhưng cơ thể chúng không được tối ứu cho những cuộc rượt đuổi kéo dài, và sẽ bỏ cuộc nếu con mồi chạy xa quá tầm truy đuổi. Còn sư tử Châu Mỹ thì khác, mặc dù có kích thước lớn hơn sư tử Châu Phi, chúng có 4 chân khá tương xứng giúp đạt tốc độ tối đa nhanh hơn.

Cách duy nhất sư tử Mỹ có thể săn mồi hiệu quả là sử dụng chiến thuật phục kích để gây bất ngờ cho con mồi, khiến con mồi không kịp trở tay. Giống như các lòai động vật săn mồi, chúng luôn đứng cuối hướng gió đế ngăn phát tán mùi cơ thể.

Kích thước cơ thể và vị trí địa lý của loài sư tử Châu Mỹ

Sư tử Châu Mỹ có lẽ đã từng sinh sống khắp Bắc Mỹ. Mẫu xương được phát hiện rải rác khắp nơi như ở Canada, dưới các hồ lớn, ở bờ biển phía đông và bờ biển Thái Bình Dương bang California trong khoảng 11.000 đến 100.000 năm trước.

Giới thiệu về loài thằn lằn biển Mosasaurs

0

Các loài thằn lằn biển Mosasaurs, với tên Tiếng Việt là Thương Long, chúng sống ở thời kỳ cuối kỷ Phấn trắng bao gồm Tylosaurus, Globidens, Platecarpus, Dallasaurus, Halisaurus, Plotosaurus, Pannoniasaurus, Prognathodon, Mosasaurus – loài thằn lằn chủ đạo cũng là tên của họ thằn lằn này.

1Tylosaurus

Hình ảnh khủng long Tylosaurus

Trong khi loài khủng long Tyrannosaurus được mệnh danh là loài khủng long săn mồi trên cạn bá đạo nhất vào cuối kỷ Phấn Trắng thì ở dưới biển chúng ta có loài Tylosaurus này. Đặc biệt ở vùng Nội biển tây kỷ Phấn Trắng (vùng biển chìm giữa Mỹ và Canada ngày nay). Kích thước khủng của loài Tylosaurus dễ dàng chiếm ưu thế cao nhất trong các loài thằn lằn ăn thịt, chúng sẽ không ngại ăn thịt bất cứ loài nào. Bằng chứng hóa thạch đã chứng minh điều này bằng cách soi xét dạ dày của chúng bao gồm các loài cá, cá mập, các loài chim không bay Hesperornis, các loài thằn lằn to lớn khác như Plesiosaurs, thậm chí cả họ hàng Mosasaurs của chúng.

Kích thước và vị trí địa lý của loài Tylosaurus

Kích thước của khủng long Tylosaurus. Hình ảnh của: Prehistoric Wildlife

Chúng có chiều dài xếp vị trí thứ 2 trong họ Mosasaurs với chiều dài 15m và cân nặng 20 tấn. Chúng bá chủ vùng Bắc Mỹ vào cuối kỷ phấn trắng, cách đây 66 – 77 triệu nặm về trước.

2Globidens

Hình ảnh khủng long Globidens

Mặc dù Globidens không phải là loài mosasaur duy nhất thích nghi với chế độ ăn động vật giáp xác, nhưng bộ răng của chúng được cấu tạo chuyên dụng cho việc đó. Thay vì những chiếc răng hình nón sắc nhọn. Globidens có hàm răng tròn với phần trên hình bán cầu giúp chúng đàn hồi tốt hơn khi nhai vỡ vỏ các loài động vật, mỗi khi hàm di chuyển lên xuống, mỗi chiếc răng sẽ đập vào vỏ của con mồi như chiếc búa, phá vỡ lớp vỏ để Globidens có thể lấy phần thịt mềm bên trong.

Răng và hàm khỏe mạnh của Globidens sẽ cho phép nó giải quyết con mồi với vỏ cứng như bọc thép, mạnh và nặng hơn cả loài Prognathodon.

Kích thước và vị trí địa lý của loài Globidens

Kích thước của khủng long Globidens so với một người cao 1,8m. Hình ảnh của: Prehistoric Wildlife.

Globidens có chiều dài khoảng 6 mét và nặng khoảng 1-2 tấn. Nó sống ở vùng biển Bắc Mỹ và Châu Phi trong thời kỳ cuối kỷ Phấn trắng, khoảng 66-84 triệu năm trước.

3Platecarpus

Hình ảnh khủng long Platecarpus

Khi nghiên cứu loài khủng long Platecarpus đã làm sáng tỏ thêm nhiều điều về họ thằn loằn Mosasaurs hơn bất kỳ loài nào khác ở trong họ. Một phần nhờ số lượng lớn hóa thạch loài Platecarpus đã được phát hiện. Một số mẫu vật của Platecarpus được bảo quản tốt đến mức chúng thực sự tiết lộ về mô mềm của các bộ phận cơ thể và cơ quan nội tạng.

Platecarpus từ lâu đã được nghi ngờ có đuôi ngạnh móc, tương tự như loài Ichthyizards nguyên thủy. Một mẫu vật Platecarpus được phát hiện có phần mô mềm cho thấy chúng có thùy đuôi hình lưỡi liềm. Chỉ riêng phát hiện này đã khiến nghiên cứu về họ thằn lằn Mosasaur bị đảo lộn. Platecarpus phát triển đuôi bơi mạnh mẽ hơn để đẩy mạnh tốc độ săn mồi của chúng. Vì vậy chúng sẽ săn các con mồi lớn, cần tốc độ cao để phục kích. Chúng cũng dễ dàng săn các con mồi bơi chậm hơn.

Kích thước và vị trí địa lý của loài Platecarpus

Kích thước của khủng long Platecarpus so với một người cao 1,8m. Hình ảnh của: Prehistoric Wildlife.

Platecarpus là một trong những thành viên nhỏ hơn của họ thằn lằn Mosasaur. Nó phát triển đến chiều dài khoảng 4-5 mét và nặng khoảng 1 tấn. Nó sống ở vùng biển Bắc và Nam Mỹ, và ở Úc vào cuối thời kỳ kỷ Phấn trắng, khoảng 84-86 triệu năm trước.

4Dallasaurus

Hình ảnh khủng long Dallasaurus

Dallasaurus là một khám phá thú vị, đặc biệt đối với những người yêu thích các loài bò sát biển Mosasaurs. Các đặc điểm về bộ xương của Dallasaurus đã giúp củng cố thêm lý thuyết rằng các loài mosasaur tiến hóa từ các loài bò sát trên cạn như loài kỳ đà trong giai đoạn đầu và giữa kỷ Phấn trắng.

Dallasaurus được coi là một loài thằn lằn liên kết tiến hóa tạm thời bởi cơ thể và đuôi của nó cho thấy sự thích nghi với bơi lội, đôi chân vẫn có sự phát triển lớn hơn để đi bộ trên đất liền. Điều này cho thấy Dallasaurus sống ở vùng nước ven biển, hoặc vùng nước cửa sông nơi chúng có thể tận dụng nguồn thức ăn dồi dào dưới nước nhưng vẫn phải quay về đất liền, khi chúng cần nghỉ ngơi và săn bắt bên các vùng đầm phá ở ven biển.

Hành vi di chuyển như vậy giúp cho Dallasaurus tiến dần tới việc săn bắt và tìm thức ăn ở các vùng biển sâu hơn. Sau đó chúng phát triển đôi chân thành vây hỗ trợ hoàn cho cuộc sống dưới biển.

Kích thước và vị trí địa lý của loài Dallasaurus

Dallasaurus là thành viên nhỏ nhất trong gia đình Mosasaur chỉ dài khoảng 1 mét. Nó sống ở vùng biển Bắc Mỹ trong thời kỳ giữa kỷ Phấn trắng, khoảng 90-94 triệu năm trước.

5Clidastes

Hình minh hoa loài khủng long Clidastes.

Kích thước nhỏ bé của loài thằn lằn Clidastes cho thấy nó chuyên săn những con mồi nhỏ và nhanh nhẹn hơn như loài cá ,đòi hỏi kẻ săn mồi phải có thân hình thật nhanh nhẹn.

Clidastes có thể là kẻ săn mồi ven biển và dưới biển nông đầm phá, nơi có nhiều loại con mồi nhỏ hơn cho chúng đồng thời cũng tránh được những loài ăn thịt khác.

Clidastes có cấu trúc đầu tam giác kéo dài giúp chúng hướng đôi mắt nhìn rõ hơn về phía trước so với hai bên thân. Hàm răng của chúng mọc sắc nhọn và hướng ngược vào trong miệng giống như những chiếc móc câu, giúp chúng giữ chặt con mồi. Chúng cũng có thêm một hàm răng phụ giúp nuốt được những con mồi lớn hơn.

Kích thước và vị trí địa lý của loài Clidastes

Với kích thước trung bình dài tới 4 – 6 mét và trọng lượng ước tính chỉ vài trăm pound, Clidastes nhỏ bé khi so sánh với những con Mosasaur lớn hơn như Mosasaurus và Tylosaurus. Nó sống ở vùng nước nông ở Bắc Mỹ trong thời kỳ cuối kỷ Phấn trắng, khoảng 72-86 triệu năm trước.

6Halisaurus

Halisaurus lần đầu tiên được đặt tên vào năm 1869, giai đoạn trong cổ sinh vật học Mỹ được gọi là “cuộc chiến xương”, một cuộc tranh cãi về xương của loài này với một số loài thằn lằn khác. Các cá thể có chiều dài từ 3 đến 4 mét, Halisaurus có đầu nhỏ hơn trong thang đo kích thước của họ thằn lằn Mosasaur. Chúng không phải là kẻ săn mồi đỉnh cao, chúng chỉ ở mức săn mồi tầm trung, săn bắt cá và mực ở vùng biển rộng.

Với sự phân bố toàn cầu trải dài từ Peru đến Bắc Mỹ, khắp Châu Phi và Bắc Âu, thời kỳ sinh sống trải dài từ kỳ Campanian cho đến kỳ Maastrichtian của kỷ Phấn trắng, Halisaurus có thể được ghi nhận là một trong những chi Mosasaur phát triển thành công.

7Plotosaurus

Plotosaurus đại diện điển hình cho họ thằn lằn Mosasaur, chúng thích nghi bơi lội tốt hơn so với hầu hết họ hàng được biết đến của chúng. Cơ thể Plotosaurus được sắp xếp ổn định, phần cứng cáp ở phía trước giúp chúng uyển chuyển hơn lúc bơi lội. Các chi hình mái chèo giúp giảm lực cản khi bơi và phần đầu dài và thanh mảnh. Một đặc điểm nổi bật khác của Plotosaurus là các lỗ mũi lớn tạo giúp việc đưa không khí vào phổi nhanh hơn, cho thấy chúng cần lặn sâu để bắt các con mồi ở dưới đó.

Kích thước và vị trí địa lý của loài Plotosaurus

‬Một trong những thành viên lớn nhất của gia đình Mosasaur, Plotosaurus phát triển chiều dài khoảng 13 mét và nặng khoảng 5 tấn. Chúng sống ở vùng biển Bắc Mỹ trong thời kỳ cuối kỷ Phấn trắng, khoảng 66-72 triệu năm trước.

8Pannoniasaurus

Pannoniasaurus đã làm nên lịch sử trong lĩnh vực nghiên cứu thằn lằn Mosasaur khi chúng đánh dấu lần đầu tiên một loài Mosasaur được tìm thấy trong một mỏ hóa thạch nước ngọt. Là một loài bò sát, chúng thở bằng phổi mà không phải bằng mang như loài cá, việc di chuyển sống từ vùng biển sang vùng nước ngọt vì vậy cũng không gặp trở ngại gì. Đồng thời chúng có thêm nhiều năng lượng khi bơi lội trong vùng nước ngọt. Chúng được cho là đáp ứng sống tại các lòng sông và suối nước ngọt vì thói quen ngược dòng nước lần theo mùi vị của xác con mồi chết ở đầu nguồn nước.

Kích thước và vị trí địa lý của loài Pannoniasaurus

Pannoniasaurus có chiều dài khoảng 6 mét và nặng vài trăm kilogam Nó sống ở vùng biển châu Âu vào cuối kỷ Phấn trắng, khoảng 84-86 triệu năm trước.

Lợn Rừng – Wild Boar

0
Creator:JPBennett Copyright:JPBennett

Bản đồ phấn bố của loài LỢN RỪNG
Bản đồ phấn bố của loài Lợn Rừng

Lợn rừng là một loài trong họ lợn hoang dã, chúng là loài bản địa của những khu rừng rậm ở Châu Âu, khu vực đông bắc Châu Mỹ và chúng cũng sinh sống ở khắp Châu Á. Lợn rừng có sự phân bố cực kỳ rộng rãi với số lượng phân loài ước lượng lên tới 25. Rất khó để phân loại tất cả các phân loài, bởi vì chúng rất dễ phối giống, vì vậy chúng được các nhà khoa học công nhận có bốn phân loài chính dựa vào sự phân bố theo vị trí địa lý. Chúng có chung những đặc điểm kích thước  bề ngoài dễ nhận biết, nhưng có sự đa dạng về màu sắc dựa theo vùng sinh sống. Lợn rừng là loài cực kỳ dễ dàng thích nghi với đa dạng môi trường sống, chúng có thể ăn được gần như mọi thứ, chúng không chỉ chạy nhanh mà còn bơi lội rất giỏi . Một số tên tiếng Anh phổ biến dành cho lợn rừng như European Wild Pigs, Hogs hay Boars.

Phân loại lợn rừng và sự tiến hóa

Lợn rừng trưởng thành
File Owner: 4028mdk09

Lợn rừng là loài động vật có vú có kích thước trung bình, với chiếc đầu và thân trước to lớn, phần thân sau nhỏ lại. Chúng có lớp lông dày bên ngoài, bên dưới lớp lông dày to là lông nhỏ phủ kín cơ thể. Lợn Rừng có nhiều màu sắc từ nâu, đen, đổ hoặc xám tối, tất cả phụ thuộc vào vị trí địa lý mà chúng sinh sống. Ví dụ như những cá thể lợn rừng ở Tây Âu thường có màu nâu, còn ở các thể lợn ở khu rừng Đông Âu sẽ có màu đen nhánh. Lợn Rừng có thị giác rất kém bởi đôi mắt của chúng khá nhỏ, nhưng chúng lại có chiếc mõm dài thẳng, giúp chúng đánh hơi rất tốt.

Lối sống của Lợn Rừng

Lợn Rừng là loài động vật sống về đêm, chúng thường chỉ kiếm ăn trong đêm tối. Chúng dành khoảng 12 giờ vào ban ngày chỉ để ngủ ở trong hang hoặc tổ quây lại bằng lá cây. Lợn rừng cái thường tương đối hòa đồng, chúng sống trong lãnh thổ không bó buộc với 6 đến 30 cá thể. Đàn lợn thường có các cá thể cái đang chăm con, chúng có thể sinh hoạt kiếm ăn lẫn lộn với lợn cái của đàn khác. Nhưng đối với lợn rừng đực thường sống đơn lẻ trong gần cả năm, cho đến khi mùa sinh sản bắt đầu chúng sẽ sống chung giữa hai hoặc nhiều đàn khác nhau cùng với các con đực khác. Lợn rừng đực sẽ chiến đấu cạnh tranh nhau giành quyền giao phối với lợn cái.

Sinh sản và vòng đời của Lợn Rừng

Sau khi giao phối, lợn rừng cái sẽ để khoảng 4-6 lợn con. Tổ của chúng thường được vây bằng lá cỏ và rong rêu. Lợn cái thường nằm cùng con trong một vài tuần để bảo vệ chugns khỏi các loài vật ăn thịt khác. Lợn rừng con có màu sắc và hình dáng vô cùng đặc biệt, chúng có màu lông nâu sáng, hòa lẫn với những đường sọc trắng nâu lẫn lộn kéo dài khắp trên lưng. Những đường sọc trên lưng lợn con sẽ biến mất sau khi chúng đạt 3-4 tháng tuổi, bộ lông sọc đó giúp lợn con hòa lẫn ngụy trang với thềm rừng nhiều lá khô rất hiệu quả. Khi được hai tháng tuổi, lợn con bắt đầu khám phá xung quanh tổ để nghịch và tìm thức ăn, Chúng sẽ trưởng thành vào khoảng 7 tháng tuổi và màu lông chuyển sang đỏ hoàn toàn. Lông lợn rừng chuyển sang màu sắc của lợn trưởng thành khi đạt hơn 1 năm tuổi.

Chế độ ăn uống và Con mồi của Lợn rừng

Lợn rừng đi ăn

Lợn rừng là động vật ăn tạp, chúng chỉ yếu ăn thực vật. Thực vật chiếm tới 90% khẩu phần ăn uống của lợn rừng, bao gồm lá cây quả dại và trái rụng, ngoài ra chúng còn ăn rễ và củ cây. Chúng còn sống gần khu vực có nhiều hoa màu hay hạt rừng sồi giàu protein. Lợn rừng thường sung thêm dinh dưỡng bằng trứng chim, bò sát, sâu hay thậm chí là rắn. Đôi khi chúng dọn hết phần thức ăn thừa của những loài động vật ăn thịt khác bỏ lại.

Động vật thiên địch của Lợn rừng và Các mối đe dọa đối với chúng

Do sự phân bố cực kỳ rộng trên thế giới, Lơn rừng là con mồi của rất nhiều loài động vật với đủ loại kích cỡ. Những loài họ mèo lớn như báo hoa mai, linh miêu hay hổ nằm trong số những loài săn lợn rừng, cùng với đó là chó sói, gấu và con người. Mặc dù số lượng ngoài tự nhiên của lợn rừng đã suy giảm khá nhiều ở một số vùng, nhưng có những vùng như ở Châu Âu, Hà Lan, hay Pakistan thì số lượng của chúng đang tăng lên rất nhanh. Nguyên do có thể ở khu vực chungs sinh sống không có loài vật săn mồi, và sự đa dạng nguồn thức ăn dẫn đến sinh sản nhanh.

Thông tin và Đặc điểm của Lợn rừng

Chiếc mõm của lợn rừng là một đặc điểm đặc trưng nhất của chúng. Mõm của chúng có phần đĩa sụn ở cuối, cho phép lợn rừng có thể vừa đánh hơi vừa ủi thức ăn. Tất cả các loài lợn rừng đều có răng nanh lớn ở hàm dưới. Con đực thường to lớn hơn con cái, và chúng có một chiếc răng nanh ở môi trên có nhiệm vụ làm sắc cạnh cho răng nhanh môi dưới.


[table id=2 /]

Hổ – Tiger

0
Loài h? ? Siberia

Bản đồ phấn bố của loài Hổ
Bản đồ phấn bố của loài Hổ

Hổ loài loài có kích thước lớn nhất trong Họ Mèo (Feline), hổ trưởng thành có kích thước dài khoảng 2,5m. Hổ cũng là loài có sức mạnh lớn nhất trên tất cả các loài mèo lớn, chúng có nguồn gốc từ Đông Nam Á. Loài hổ đã từng khiến cho con người phải khiếp sợ ở những vùng lãnh thổ mà chúng sinh sống.

Có cả thảy 6 phân loài hổ bao gồm hổ Bengal, hổ Đông Dương, hổ Siberi, hổ Hoa Nam, hổ Sumatra, hổ Mã Lai. Loài hổ trắng thực ra là hổ Bengal nên chúng không được xem là một phân loài riêng của loài hổ.

Loài hổ lúc trưởng thành nặng trung bình 300 kg và chiều dài cơ thể lên tới 4m nếu tính cả phần đuôi. Hổ là loài săn mồi đa dạng, bao gồm lợn rừng, rắn, trâu rừng, cá sấu, hươu, nai, hay báo đốm. Chúng được biết đến với kỹ năng săn mồi hiệu quả nhờ cách tiếp cận rình rập con mồi trong im lặng, cộng với thân hình mạnh mẽ của chúng.

Loài hổ có thể đạt tốc độ rất nhanh, lên tới 90 km/h trong lúc chạy. Chúng còn được biết đến trong những lần đụng độ với voi hay tê giác ở trong rừng, chúng thường là kẻ chiến thắng.

Hổ Sumatra

Loài hổ thường có màu vàng cam với các dải sọc đen, mặc dù thỉnh thoảng chúng ta vẫn gặp loài hổ trắng với màu lông xám. Hổ trắng là một loài có màu lông không phổ biến, chúng rất hiếm, hổ trắng được sinh ra do quá trình đột biến gen khi còn trong bụng hổ mẹ. Không có gì đảm bảo rằng chúng sẽ sinh ra con non có lông màu trắng, rất nhiều hổ trắng đã sinh con màu cam sọc đen.

Ngày nay loài hổ được coi là sinh vật gần tuyệt chủng, chỉ còn một số ít đang lang thang trong các khu rừng ở châu Á. Tuy vậy, loài hổ vẫn là loài săn mồi thống trị trong vùng lãnh thổ của chúng nhờ sức mạnh săn mồi kinh hoàng, cùng với đó là các kỹ năng chạy nhảy, bơi lội, leo trèo hiệu quả cao.

Hổ là loài săn mồi có khả năng thích nghi cao với đa dạng lãnh thổ, từ Siberi cho đến vùng đồng cỏ hay các đầm lầy, rừng ngập mặn, rừng nhiệt đới ở miền trung và đông nam châu Á. Hổ cũng là một loài thích sống đơn độc và có tính bảo toàn lãnh thổ cực cao.

Hổ trắng

Do kích thước lớn và lối sống đơn độc, loài hổ cần phải có một khu vực sống rộng lớn để đáp ứng nhu cầu săn mồi. Bởi vậy chúng thường sống xâm lấn với khu vực sống của con người, điều này dẫn tới những xung đột giữa con người và loài hổ.

Loài hổ thường giao phối vào từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau đó, và sau khoảng thời gian mang thai 3 tháng, chúng sinh từ 2 đến 3 con. Khi hổ con được sinh ra chúng rất dễ bị tổn thương và chưa mở mắt. Cho đến lúc trưởng thành khoảng 18 tháng tuổi, chúng có thể tự săn mồi. Hổ con được biết đến với khả năng sinh trưởng nhanh, trung bình mỗi ngày từ lúc sinh ra hổ con tăng khoảng 100g gam. Hổ con thường sống với hổ mẹ từ 2 đến 3 năm tuổi cho đến khi trưởng thành hoàn toàn và có thể tự lập sống một mình.


[table id=2 /]

Mèo gấm – Ocelot

0
Mèo g?m Ocelot

Bản đồ phấn bố của loài Mèo gấm Ocelot
Bản đồ phấn bố của loài Mèo
gấm Ocelot

Phân loại mèo gấm và tiến hóa

Mèo gấm Ocelot là một loài mèo có kích thước nhỏ vừa, chúng là loài mèo bản địa ở các khu rừng Nam Mỹ. Mèo gấm còn được biết đến với tên gọi là báo sơn với những vết chấm trên cơ thể chúng. Gần giống với mèo Ocelot nhưng nhỏ hơn nhiều là loài mèo đốm Margay, mèo gấm Ocelot đã gần như bị tuyệt chủng bởi nạn săn bắt lấy lông vào đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, nhờ có sự bảo vệ rừng quốc gia đã khiến chúng có thêm môi trường sinh sống nên số lượng mèo đã phục hồi phần nào.

Cơ thể học và hình dáng bên ngoài

Mèo Ocelot có bộ lông ngắn dày và rất mượt, thường có màu vàng nhạt đến xám đỏ và có dải bớt đen như những cánh hoa đang nở ở phía hai bên hông và trên lưng. Chúng có chấm bi nhỏ ở các chân, với chiếc đuôi dài có lồng màu đen tụ thành mảng lớn. Giống như những loài khác trong họ nhà mèo, chúng có thể thu móng vuốt vào bên trong da để ngăn móng bị cùn trong lúc đi bộ. Con đực thường có kích thước lớn hơn con cái. Ocelot có bộ răng nhọn với răng hàm và răng nanh tương ứng để cắn xé thức ăn.

Phân bố và sinh cảnh

Mèo gấm Ocelot được tìm thấy trên khắp vùng nhiệt đới Nam Mỹ nhưng phổ biến nhất là ở các khu rừng rậm gần lưu vực sông Amazon. Chúng có thể sống ở nhiều vùng có môi trường sống khác nhau, trải dài từ Texas, Hoa Kỳ cho tới miền bắc Argentina. Ocelot là loài cực kỳ dễ thích nghi với mọi môi trường sống như rừng nhiệt đới, đồng cỏ, rừng ngập mặn, đầm lầy và ở những nơi có thảm thực vật dày đặc. Mèo gấm Ocelot thường được tìm thấy ở độ cao dưới 1200 mét so với mực nước biển nhưng chúng cũng được tìm thấy ở các vùng núi cao 3800 mét. Chúng là những tay bơi lội cừ khôi, sống tốt ở các vùng bị ngập lụt và thích sống ở khu vực có con người.

Hình ảnh mèo gấm Ocelot

Lối sống và hành vi

Mèo gấm Ocelot là loài thích sống đơn độc, lãnh thổ sống được coi là “nhà” của chúng có thể rộng tới 30km2 tùy thuộc vào môi trường xung quanh. Con đực thường có xu hướng thích tuần tra lãnh thổ rộng gấp đôi so với con cái bao gồm cả lãnh thổ mà con cái đang được con đực có quyền phối giống. Ocelot là một động vật sống về đêm, chúng dành thời gian ban ngày để ngủ trong bụi cây hoặc trên cành cao. Chúng các cơ quan thính giác, xúc giác và thị giác siêu nhạy bén giúp săn mồi trong đêm trở nên dễ dàng. Chúng hoạt động rất bí mật, chỉ tuần thảo quanh lãnh thổ vào ban đêm nên gần như rất khó phát hiện.

Sinh sản và vòng đời của mèo gấm Ocelot

Mèo Ocelot có thể sinh sản quanh năm nhưng chủ yếu vẫn tập trung vào mùa hè. Sau khi giao phối, mèo gấm Ocelot thường sẽ tìm một khe đá, hốc cây hoặc một bụi cây nhiều gai góc để sinh con an toàn cũng như có được sự riêng tư. Sau thời điểm mang thai khoảng 85 ngày, mèo gấm sẽ sinh từ 2 đến 3 con, mèo con sẽ có bộ lông một màu tối. Sau khoảng một tháng, mèo con sẽ tự khám phá xung quanh và màu sắc lông đã thay đổi đầy đủ hơn. Mặc dù mèo Ocelot con có thể sống trưởng thành độc lập chỉ sau một năm tuổi, nhưng chúng thường sống xâm lấn quanh lãnh thổ của mẹ chúng thêm một vài năm trước khi rời hẳn và thiết lập lãnh thổ riêng.

Mèo con ocelot

Chế độ ăn và con mồi

Ocelot là một loài động vật ăn thịt chuyên tìm thức ăn trong màn đêm chủ yếu bằng cách rình rập con mồi trên mặt đất. Bữa ăn của chúng chủ yếu là thịt của các loài chuột gặm nhấm nhưng chúng còn săn bắt rất nhiều loài vật nhỏ khác như thỏ, chim cá, cua, thằn lằn hay rắn, thậm chí là loài hươu nhỏ. Khi mèo Ocelot không đủ thức ăn trong vùng lãnh thổ của chúng, mèo gấm có thể săn cả rùa hoặc khỉ. Với chế độ ăn đa dạng như vậy, mèo gấm Ocelot đã góp phần đa dạng hóa hệ sinh thái của mọi vùng miền mà chúng sống.

Kẻ thù và loài ăn thịt chúng

Mèo gấm Ocelot có thể bị các loài ăn thịt khác săn bắt như báo đốm Nam Mỹ, sư tử núi. Tiếp theo là đại bàng Harpy, trăn Anaconda nằm trong danh sách kẻ thù hàng đầu của mèo gấm Ocelot. Bộ lông độc đáo của mèo gấm giúp chúng ngụy trang tốt với các con mồi nhưng cũng từng là thảm họa cho chúng khi nhiều người rất thích bộ lông này. Vào những năm 1960 đến 1980, mèo gấm Ocelot đã tiệm cận bờ vực tuyệt chủng bởi sự săn bắt vô tội vạ làm vật nuôi cũng như giết lấy lông. Kể từ khi Ocelot trở thành một loài được bảo vệ ở nhiều quốc gia, số lượng của chúng đã tăng lên nhưng hiện tại chúng vẫn đang bị đe dọa bởi nạn phá rừng, xâm hại rất lớn tới môi trường sống.

Sự thật thú vị về mèo gấm Ocelot

  • Cũng giống như nhiều loài mèo hoang dã khác, mèo gấm Ocelot đã được nhiều người bắt làm vật nuôi. Nổi bật nhất có thể kể đến nghệ sĩ phong cách siêu thực Salvador Dalí, ông thường mang theo một chú mèo gấm khi đi du lịch.
  • Mèo Ocelot còn được thờ bởi nền văn hóa Peru cổ đại, họ thường mô tả loài mèo Ocelot rất đẹp trong các tác phẩm nghệ thuật để lại.
  • Mèo Ocelot hoạt động ít nhất 12 giờ mỗi ngày, trong thời gian hoạt động chúng có thể di chuyển xa tới 7 dặm.

Startled ocelot vs crab

Mèo gấm Ocelot và con người

Mèo gấm Ocelot được coi là con vật linh thiêng của các nền văn hóa cổ đại nhưng với bộ lông mềm mại và hoa văn của chúng nhanh chóng thu hút sự chú ý của đám thợ săn. Số lượng Ocelot đã từng suy giảm nghiêm trọng trong tự nhiên, đặc biệt vào những năm 1960 và 1970 khi chúng được săn lùng ráo riết, có tới 200,000 bộ da được mua bán mỗi năm. Cùng với đó là phong trào bắt Ocelot hoang dã làm thú cưng. May mắn thay tình trang trên chấm dứt khi Ocelot được liệt kê vào danh sách các loài vật có nguy cơ tuyệt chủng.

Mặc dù thực tế mèo gấm Ocelot đang tăng số lượng trong phạm vi tự nhiên, nhưng ở một số khu vực đặc biệt chúng vẫn đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng môi trường sống bởi các hoạt động của con người ngày càng gia tăng, chủ yếu từ nạn phá rừng và các khu vực phát triển kinh tế địa phương.

Tình trạng bảo tồn loài mèo gấm Ocelot

Ngày nay, Ocelot được xếp vào danh sách loài vật ít quan tâm về tình trạng tuyệt chủng trong môi trường tự nhiên ở tương lai gần. Lãnh thổ sinh sống của chúng thực sự đang hẹp dần, chủ yếu là mất môi trường sống đặc biệt ở các vùng dọc sông Amazon, nạn phá rừng diễn ra quá nhanh khiến mèo ocelot không có đủ lượng thức ăn dồi dào đề tồn tại.


[table id=2 /]

Rái Cá – Otter

0
Loài Rái Cá - Otter

Bản đồ phấn bố của loài Rái Cá
Bản đồ phấn bố của loài Rái Cá

Rái cá là một loài động vật có vú loại nhỏ, chúng sống cả trên cạn và ở dưới nước. Hiện có 13 loài rái cá được biết đến đang sinh sống khắp thế giới.

Thức ăn chủ yếu của rái cá là các loài cá và sinh vật dưới nước, chúng cũng ăn các loài lưỡng cư, các loài chim và những loài động vật nhỏ khác.

Loài rái cá biển ở khu vực Bắc Mỹ được ghi nhận đã từng bơi tới tận vùng biển phía nam Nhật Bản. Rái cá biển cũng là loài rái cá to lớn nhất trong họ rái cá. Chúng có thể dài tới hơn 1m.

Rái cá có một lớp lông dày bao phủ toàn thân, giúp chúng giữ ấm cơ thể ở gần các vùng nước giá lạnh. Dưới lớp lông dày là một lớp lông mỏng khác, lớp này có nhiệm vụ lưu giữ không khí khi.

Rái cá cái thường sinh sản khoảng 3-5 con non mỗi năm vào mùa xuân. Chúng sinh sản trong tổ được làm từ các vật liệu cành lá cây, thân gỗ. Con non được chăm sóc từ 4 đến 10 tháng tuổi thì chúng tự lập.

Rái cá rất dễ thương

Đặc điểm của chân rái cá

  • Rái cá có bốn chân có màng giữa các ngón giúp chúng có thể bơi dưới nước dễ dàng.
  • Chân của rái cá thường có 5 ngón giúp rái cá có sức mạnh khi bơi và bò trên mặt bùn cát dọc bờ sông.
  • Mỗi ngón chân của rái cá có các móng vuốt khỏe.
  • Chân sau của rái cá thường lớn hơn chân trước giống như đôi vây giúp chúng đẩy nước nhanh lúc bơi lội.

Đặc điểm của răng rái cá

  • Rái cá là một ngư dân đáng nể, với trình độ bắt cá điêu luyện bằng cách dùng hàm răng của chúng cắn chặt con mồi.
  • Rái cá trưởng thành có tới 32 chiếc răng bao gồm bốn chiếc răng nanh sắc nhọn ở phía trước hàm cắn ngập sâu vào cơ thể con mồi.
  • Răng hàm của chúng thường bằng phẳng ở đỉnh và tròn trụ dùng để nghiền nát thức ăn thay vì nhai xé con mồi.
  • Răng của chúng được cấu tạo để nhai các loài động vật giáp xác như cua, ốc, các loài ngao, sò.

[table id=2 /]

Gấu Grizzly: Quyền Lực Tuyệt Đối Của Vùng Bắc Mỹ

0
Gấu grizzly Bắc Mỹ
Photo: Jean Beaufort / Wikimedia Commons / CC0

Bạn có thể tin không, một chiếc móng vuốt của loài động vật này tự nhiên dài bằng ngón tay người trưởng thành. Chúng có thể vung tát ngang mặt đối thủ với lực đập nặng hàng trăm kilogram, đủ sức làm nứt vỏ một cái cây nhỏ hoặc làm móp méo cả những chiếc xe hơi kiên cố nhất.

Gấu grizzly hay còn gọi là gấu xám Bắc Mỹ là biểu tượng đáng sợ cuối cùng của vùng Bắc Mỹ hoang dã. Khối cơ bắp cuồn cuộn mọc nhô cao trên vai như một ngọn núi nhỏ, bộ lông nhuốm màu bạc bắt sáng và bản bản năng sinh tồn khắc nghiệt biến chúng thành kẻ săn mồi hoàn hảo. Ngay cả những bầy sói xám ranh mãnh nhất, khi nhìn thấy bóng dáng con vật nặng ba tạ này lững thững tiến tới con mồi của đàn sói, chúng cũng lẳng lặng rút lui vào rừng sâu.

Tên khoa họcUrsus arctos horribilis
Phân loạiĐộng vật có vú (Mammalia), Bộ ăn thịt (Carnivora), Họ Gấu (Ursidae)
Tình trạng bảo tồnÍt quan tâm (LC – IUCN), nhưng bị đe dọa cục bộ ở Mỹ
Chiều cao1 – 1,5m tới vai; Đứng bằng hai chân cao 2 – 2,5m
Khối lượng130 – 360 kg (cá biệt đực trưởng thành lên tới 400 kg)
Phân bố tự nhiênMiền Tây Bắc Mỹ, Alaska hoang dã và một phần Canada

Đặc điểm nhận dạng: Cơ bắp cuồn cuộn và cỗ máy đào đất

vuốt gấu grizzly
Photo: Pierre5018 / Wikimedia Commons / CC BY-SA 4.0

Nếu chỉ quan sát từ xa, rất dễ nhầm lẫn giữa một con gấu đen Bắc Mỹ và một con gấu grizzly sở hữu lông sẫm màu. Tuy nhiên, thiên nhiên đã trang bị cho loài gấu xám hai đặc điểm nhận diện vô cùng rõ ràng.

Đáng chú ý nhất là khối cơ bắp rắn chắc gồ cao nằm trên xương bả vai. Khối u bả vai đóng vai trò như kết cấu cốt thép khổng lồ, kết nối trực tiếp vào chi trước, cung cấp cho chúng sức mạnh vĩ đại để nhổ rễ cây, lật tung các phiến đá nặng hoặc xé toạc tổ kiến. Khối cơ bắp này làm nên dáng đi hơi gù đặc trưng. Khi chạy nước rút, mảng cơ vai sẽ ép lại và đẩy cơ thể con thú lao về phía trước, đạt tốc độ lên tới 55 km/h, chạy nhanh hơn cả thỏ rừng trên địa hình gồ ghề.

Đặc điểm nhận diện thứ hai nằm ở bộ móng vuốt chân trước. Năm ngón chân sở hữu bộ vuốt có thể dài tới 10 centimet và mọc tương đối thẳng. Cấu trúc móng này khiến gấu trưởng thành gần như không thể leo trèo trên những thân cây cao vút như gấu đen. Bù lại, bộ móng vuốt dài biến thành công cụ cuốc xới chuyên dụng. Chúng cày sâu lớp đất đông lạnh như một lưỡi gàu múc để moi tìm củ rễ, động vật gặm nhấm nhỏ hay các ụ kiến béo bệu.

Phần sống mũi của gấu grizzly hơi lõm xuống ở giữa trán, tạo ra khuôn mặt khá bặm trợn. Bộ lông của chúng xù xì, màu sắc đa dạng từ vàng sáng đến nâu đậm. Phần chóp lông của loài này thường ngả bạc, phản chiếu ánh sáng lấp lánh như bị nhuốm bạc. Đây là nguyên nhân xuất hiện thuật ngữ “grizzled”, làm nên cái tên danh tiếng của loài sinh vật này.

Môi trường sống và tàn tích lịch sử

Xưa kia, gấu grizzly vĩ đại từng làm chủ một vùng lãnh thổ bao la kéo dài từ Alaska băng giá ở cực Bắc, tràn qua bình nguyên mênh mông, xuống đến phần đất đầy cát nóng ở thảo nguyên Mexico. Số lượng quần thể đông đảo trải rộng khắp sườn đồi, nơi không loài hoang dã nào dám thách thức vùng cấm địa.

Thế nhưng, sự mở rộng dân sinh của con người đã thay đổi tận gốc sự phân bố. Khu vực sinh tồn của gấu grizzly ở 48 tiểu bang hạ vùng nước Mỹ đã thu hẹp khốc liệt tới 98%. Quần thể lớn hiện nay chỉ còn bó gọn lại trong một số “hòn đảo xanh” cuối cùng như Vườn quốc gia Yellowstone nằm vắt qua các bang Montana và Wyoming.

Việc bị bó hẹp trong các khu vực dân cư cắt ngang khiến gấu thường xuyên đụng độ con người. Nhiều con gấu buộc phải băng qua hệ thống đường nhựa, và thường phải nhận lấy kết cục xấu khi đi lang thang kiếm thức ăn sục sạo trong trang trại địa phương. Hiện tại, chỉ còn hệ sinh thái rừng núi Alaska biệt lập mới là nơi đàn gấu grizzly sinh trưởng mạnh mẽ xung quanh dòng sông băng dồi dào phù du.

Chế độ ăn “nghịch lý” của kẻ săn mồi đỉnh bảng

gấu grizzly con
Photo: Charles J Sharp / Wikimedia Commons / CC BY 2.5

Với hình hài cao tới gần một mét rưỡi đến vai và cân nặng tới ba bốn tạ, người ta hay mường tượng gấu grizzly thức dậy chỉ để truy sát những con nai khổng lồ tứa máu.

Thực tế mang lại một nghịch lý khác hẳn. Gấu grizzly có thể gọi là “cỗ máy ăn chay” vĩ đại khi thực vật, cỏ non, củ rễ và quả mọng nước chiếm tới 90% khẩu phần ăn hàng ngày. Một cá thể đồ sộ có thể tiêu tốn nhiều canh giờ mỗi ngày chỉ để kiên nhẫn vặt từng quả việt quất nhỏ xíu đưa vào miệng.

Tất nhiên, thịt thà vẫn đóng vai trò chính yếu để lấp đầy kích thước cơ thể rắn chắc đó. Sự sung túc của chúng gắn liền với hoạt động bơi ngược sông băng của đàn cá hồi rực đỏ vào lễ hội mùa đẻ trứng. Những con gấu béo núc sẽ đứng chặn trên các con thác nước đổ tạt và ngậm gọn lấy cá hồi bằng cú cắn linh hoạt đầy tốc độ. Một gấu grizzly lớn bụng đói khao khát có khả năng đớp vội lượng bao tử dồn dập đến 40kg thịt cá liên tiếp vào mỗi ngày trong vài tuần cuối hè trước khi đối diện tuyết tan ngập úng mùa đông.

Mùa ngủ đông và sinh sản

gấu grizzly bắt cá hồi
Photo: Brian W. Schaller / Wikimedia Commons / FAL

Khi mùa đông dốc đổ mang theo hạt tuyết dày đặc che giấu toàn bộ nguồn thức ăn, gấu grizzly sẽ tự đi tìm hang động hoặc đào tổ mới dưới rễ cây để bắt đầu kỳ ngủ đông dài hạn.

Chúng sẽ cuộn tròn lịm đi từ 5 đến 7 tháng liên tiếp. Cả một mùa tuyết phai, con vật khô cằn tuyệt nhiên không tìm kiếm miếng ăn, không uống một giọt nước và hoàn toàn ngừng hẳn chức năng bài tiết. Trạng thái cơ thể này điều chỉnh nhịp tim từ 40 nhịp/phút xuống vỏn vẹn còn khoảng 8 nhịp/phút. Thân nhiệt hạ xuống nhẹ nhàng đủ mức cần để không làm đóng băng các chi và toàn bộ nguồn năng lượng trao đổi được lấy ra từ lớp mỡ tích tụ dày chục phân dưới da.

Điều kỳ diệu nhất diễn ra ngay giữa giấc ngủ triền miên này: con mẹ sẽ rặn đẻ ở bóng tối buốt giá. Một đôi gấu con mới lọt lòng hang nhám chỉ nặng khoảng 400 gram (con số bé hơn cả quả cam tây), chưa hề mở mắt và chưa mọc một cọng lông. Bản năng tự nhiên định hướng chúng tự bò đến bầu sữa gấu mẹ, hút nguồn dưỡng chất nóng hổi chứa đến 30% hàm lượng béo ngậy. Gấu sơ sinh sẽ theo phe chân mẹ tìm học cách đẽo lõi cây và rình mồi cho đến tận hai năm trước khi tách bóng bước ra làm quen một mình cõi thế giới sinh linh.

Câu chuyện sinh tồn và góc nhìn từ Việt Nam

Trên sổ thống kê danh sách đỏ, loài gấu nâu nói chung đang được IUCN xếp ở hạng mục Ít quan tâm nhờ quần thể lớn khổng lồ liên bang tại toàn bộ vùng ôn đới Âu-Á. Tuy nhiên, nếu xét về quần cư gấu grizzly mang danh tiếng đáng sợ sinh sống dọc trong lục địa Hoa Kỳ, các bang đã phải thành lập cơ số vùng định khu gắt gao nhằm cố bảo toàn sinh thái.

Nếu kết nối lại tới hình tượng hoang dã ở rừng nhiệt đới Việt Nam, các nhà động vật học thường quan sát người anh em cùng họ nhà gấu là loài gấu ngựa hay gấu chó. Mang mức dao động khối lượng rất bé từ 100 tới 150 kg – quá khiêm tốn so với đỉnh cân 300-400 kg của grizzly – gấu ngựa tự điều chỉnh khuôn khổ bộ gen sinh thái để sống nương nhờ. Lợi thế đặc sắc làm gấu hoang dã nước nhà bấu chặt sống sót bằng bộ móng cong cúp dài tứa chọc bứt gốc leo trèo nhanh, đung đưa lấy mật qua tổ nhện cành cây dẻ dẻo vút.

Gấu grizzly lại đối đầu sinh cơ trên mảnh đất bình nguyên thảo dã rộng hoang vu không rợp bóng che thân. Phương án sống chui lẩn bị cắt bỏ ở giữa bầy hoang dã làm chúng bắt buộc tiến hóa đến sự rắn chắc gân cốt, mang gù trên lưng và sẵn lòng lao giáp lá cà bất cứ khi nào chó sói thèm khát mon men tranh giành mớ da non thú vị.

Câu hỏi thường gặp

Lực cắn của gấu grizzly là bao nhiêu?

Lực cắn của gấu grizzly đạt tới 1160 PSI (pound trên inch vuông). Đây là lực ép đủ dễ dàng xé rách lớp da dày, nghiền vỡ nát một khúc xương đùi bò mộng, hoặc cắn vụn một quả bóng bowling. Hệ cơ hàm này giúp cơ thể chúng nghiền nát con mồi nhanh chóng.

Gấu xám Bắc Mỹ grizzly chênh lệch với gấu nâu thế nào?

Từ cấp độ sinh học, gấu grizzly thực chất là một phân loài của nhánh gấu nâu chung. Tên gọi “grizzly” chủ yếu dùng để gọi quần thể phân bổ sống tại khu vực sâu trong đất liền Bắc Mỹ để phân biệt với dạng gấu nâu ven biển đảo Kodiak thích bắt cá.

Chúng có hay tấn công người đi rừng?

Gấu có tính tự vệ chống xâm phạm lãnh thổ vô cùng gắt so với những nhánh họ hàng bầy thú hiền dịu. Tính nóng tính hung dữ bột phát ở lúc bất ngờ hoảng hốt bóp nghẹt tại cự ly đối mặt hoặc đe doạ trực tiếp tới đàn con nhỏ dại. Thế nhưng đa số người tham quan nếu gặp chớp khoảng cách tự tôn thì thú hoang thông thường sẽ tìm đường lui tháo chạy trước.

Kẻ thù trong tự nhiên của loài gấu này là ai?

Một con grizzly trưởng thành trên cánh rừng bình địa chẳng còn bị ai truy đuổi ngoại trừ chính sức khoẻ đập xé bởi cuộc chạm trán điên loạn ở mùa phát nhiệt cùng giống nòi hùng mạnh khác. Ranh thú nhỏ gấu con gặp bất an thình lình thỉnh thoảng đụng mặt nanh vuốt tàn sát từ chó sói nếu chẳng may dạt xa bóng nắp lưng bờ vai vững chãi phụ huynh sinh tử.

Tại sao chúng lại thích cọ xát lưng trên gốc cây?

Đứng ngả dài lưng lên trên hai chi phía sau cọ chà ở mặt vỏ cứng là biện pháp liên hệ với nhiều đồng loại khác băng rừng. Sát cọ bằng vùng tuyến mỡ nách để lưu thông cáo hóa học vạch lãnh án ranh chủ quyền trên mảng chéo đường mòn lấp gai. Thêm điều lợi ích khi giúp chú gấu xả bỏ vứt mớ lông chấy phiền muộn cọ ngứa khi đón thay một tấm bộ lông mượt mà mùa màng xuân.

Hình ảnh một con gấu grizzly khổng lồ đứng sừng sững trên thảo nguyên hoang dã mãi là một trong những cảnh tượng tráng lệ và kính sợ bậc nhất thiên nhiên miền đất Bắc Mỹ.


Tài liệu tham khảo:

1. “Grizzly bears”, National Wildlife Federation (NWF) 2. Sách đỏ IUCN: “Ursus arctos”, IUCN Red List of Threatened Species 3. Báo cáo tình trạng động vật Yellowstone: “Yellowstone Grizzly bears”, National Park Service (NPS)

11 loài vật bốc mùi thối nhất hành tinh

0
loài v?t b?c mùi th?i nh?t

Có một thực tế rằng các loài động vật ít khi quan tâm đến cơ thể bốc mùi của chúng, và nếu mùi hôi trên cơ thể chúng có thể khiến các loài săn mồi hoặc con người tránh xa chúng, như vậy lại càng tốt hơn. Theo list dưới đây, chúng ta sẽ cùng khám phá 11 loài bốc mùi nhất trong thế giới các loài động vật.

1Gà móng hoang dã Hoatzin – Stinkbird

Chim thối Hoatzin là một loài chim nhiệt đới, chúng có một hệ tiêu hóa độc đáo nhất trong vương quốc điểu cầm. Thức ăn của loài chim này ăn được tiêu hóa bởi các loại vi khuẩn có trong ruột của chúng thay vì chính bản thân ruột chúng làm nhiệm vụ tiêu hóa. Gần giống với các động vật có vú nhai lại như loài bò. Thức ăn thối rữa trong bộ diều hai ngăn phát ra thứ mùi giống như phân. Điều này khiến loài gà móng hoang dã nằm trong cuối bảng danh sách các món ăn của người dân bản địa Nam Mỹ. Bạn có thể ngạc nhiên răng loài chim này không hề ăn ếch nhái hay các loài rắn độc mà chúng chỉ ăn chay, lá và hoa quả.

2Thú ăn kiến nhỏ – Southern Tamandua

Loài này còn được gọi là collared anteater, chúng được gọi tên như vậy để phân biệt với họ hàng của chúng là loài thú ăn kiến lớn. Loài này sẽ tụ phát ra mùi hôi khi nguy hiểm cận kề. Bình thường chúng chỉ là món ăn nhẹ cho một con báo ốm đói, nhưng khi bị tấn công, chúng phát ra một mùi hôi khủng khiếp từ tuyến hậu môn ở ngay cuống đuôi của chúng.

Tuy nhiên vẫn chưa hết, loài thú ăn kiến nhỏ này được trang bị bộ đuôi cứng cáp, hai cánh tay khỏe mạnh cùng với bộ móng vuốt dài, chúng có thể dễ dàng đuổi đánh loài mèo đốm Margay ở khắp dải đất Nam Mỹ.

3Bọ cánh cứng thả bom  – Bombardier Beetle

B? cánh c?ng th? bom  - Bombardier Beetle

Hiện tại có khoảng hơn 500 loài bọ cánh cứng thả bom, chúng có cơ chế phòng vệ mang lại cho chugns đúng như tên gọi. Khi bị quấy rầy, chúng phóng chất độc lỏng từ đầu bụng ra với một tiếng xịt. Việc phun chất độc được tạo ra từ phản ứng giwaus hai hợp chất hóa học hydroquinone và hydrogen peroxide, chúng được lưu trữ trong khoang chứa bên trong bụng. Khi dung dịch nước hydroquinone và hydrogen peroxide đạt tới tiền đình, các chất xúc tác tạo ra sự phân hủy hydrogen peroxide và quá trình oxy hóa hydroquinone. Nhiệt từ phản ứng này làm cho hỗn hợp gần điểm sôi của nước và tạo ra khí giúp đẩy chất lỏng. Thiệt hại gây ra có thể gây tử vong cho côn trùng bị tấn công. Một số loài bọ cánh cứng trong nhóm này có thể hướng tia chất lỏng bắn ra và phun trên một phạm vi rộng các hướng.

4Chồn sói – Wolverine

B? cánh c?ng th? bom  - Bombardier Beetle

Phần lược bỏ không bao giờ được nhắc đến trong tất cả các bộ phim của diễn viên Hugh Jackman (đóng vai Wolverine): sự thật ngoài đời của loài chồn sói wolverine là một trong những loài bốc mùi thối nhất trong thế giới động vật.

Chúng còn được gọi với những cái tên như gấu thối, mèo bẩn. Chồn sói wolverine thực sự không có mối liên hệ nào với loài chó sói như nhiều người lầm tưởng. Chúng thuộc họ nhà chồn, như chồn weasels, chồn lửng, chồn ferrets, và các loài động vật bốc mùi khác. Không giống với các loài trong danh sách kể ra đây, chồn sói wolverine không thải ra mùi cơ thể để phòng vệ. Chúng dùng các chất bài tiét mạnh từ tuyến hậu môn của nó để đánh dấu lãnh thổ và tín hiệu cho việc sẵn sàng trong mùa giao phối.

5Rắn nước chuột vua – King Ratsnake

Người ta thường ít khi gán loài rắn với mùi của chúng, chúng ta thường chỉ xét loài rắn có độc hay không mà ít khi nói đến loài rắn nào hôi. Tuy nhiên loài rắn nước chuột vua châu á là một ngoại lệ. Chúng được gọi là rắn hôi hay nữ thần bốc mùi. Chúng trang bị các tuyến mùi ở hậu môn, có thể nhanh chóng tiết ra khi bị đe dọa. Nhìn vậy nhưng chúng là loài rắn ăn tạp từ các loài chim cho đến rắn hổ mang.

6Chim rẽ quạt đầu rìu – Hoopoe

Chim r? qu?t ??u rìu - Hoopoe

Loài chim này sinh sống phổ biến rộng từ châu Phi cho tới khi vực Âu Á. Chim đầu rìu không hoàn toàn bốc mùi 24/7, nhưng chúng sẽ khiến bạn khiếp đảm không bao giờ muốn tiến gần lại chúng nữa. Khi chim cái đang sinh sản hoặc đang ấp trứng, tuyến dầu ở phao câu của chúng bị biến đổi thành mùi giống như mùi của thịt đang thối rữa, chim cái cứ thế dùng mỏ để trát lên bộ lông chúng. Chim non mới nở cũng được trang bị tuyến dầu như vậy. Điều này khiến các loài ăn thịt khác không muốn ngó dòm tới tổ của chúng. Cũng lý dải tại sao loài chim rẽ quạt đầu rìu có vẻ ngoài khá đẹp nhưng hiếm khi thấy được bày bán trong các gian hàng vật nuôi, chim cảnh.

7Quỷ Tasmania

Qu? Tasmania

Chúng là loài thú có túi ăn thịt bản địa trên đảo Tasmania của nước Úc. Khi chúng bị căng thẳng, quỷ tasmania giải phóng tuyến mùi kinh khủng khiến các loài săn mồi sẽ phải suy nghĩ lại khi quyết định chọn quỷ tasmania làm món ăn. Thông thường, con người ít khi có cơ hội ngửi thấy mùi của loài vật này. Chugns thường được chú ý đến bởi cách ăn uống ồn ào và lôn xộn khi cắn xé con mồi, chúng cũng thường kêu lên những tiếng thét khá giống với quỷ dữ trong các bộ phim kinh dị.

8Chồn hôi sọc châu Phi

Một loài khác trong họ nhà chồn, chồn hôi sọc châu Phi nổi tiếng về độ hôi thối của chúng hơn. Chúng dùng tuyến mồ hôi phía sau đuôi để phát xạ mùi hôi và đánh dấu lãnh thổ. Và với cách phát xạ này chúng xịt mạnh ra hơi nước có thành phần hóa học vào mắt của kẻ thù. (Một chiến thuật tấn công khá độc đáo, lưng cong lên, đuôi dựng thẳng đứng, và rồi bắt đầu quay mông vào kẻ thù rồi xịt ám khí).

9Bò xạ hương

Người ta so sánh việc đứng cùng một đàn bò xạ hương giống như việc bạn đứng ở trong phòng thay đồ của một đội bóng rổ nhà nghề ở trong phòng thay đồ sau khi kết thúc trận đấu. Bạn sẽ chú ý đến mùi mồ hôi cơ thể của các vận động viên, hoặc bạn sẽ cảm thấy mùi đó không đến nỗi, hoặc bạn sẽ thấy khá kinh tởm nếu không quen.

Trong mùa giao phối, thường vào độ chớm hè, bò đực tiết ra một chất lỏng có mùi từ các những tuyến mồ hôi gần mắt, sau đó chúng liên tục chà đầu vào lông trên cơ thể. Mùi hôi độc đáo này thu hút những con cái tiếp cận chúng, những con cái sẽ kiên nhẫn chờ đợi ở gần đó trong khi các con đực chiến đấu với nhau dể dành sự thống trị. Bò đực thường tấn công bằng cách lao mạnh đầu vào nhau với tốc độ cao. Con đực nổi trội thường được biết với cách “cầm tù” những con cái trong đàn cẩn thận, đôi khi chúng cũng đá và húc mạnh vào con cái nếu con cái không hợp tác.

10Chồn hôi Skunk

Chồn hôi skunk khá nổi tiếng trong họ nhà chồn. Tốt nhất bạn không nên dại khi tiếp cận chúng, bởi chồn skunk sẽ không ngần ngại xịt thẳng vào người bạn nếu chúng cảm thấy bị đe dọa. Bạn sẽ rất khó có thể loại bỏ mùi hôi của chồn skunk khỏi cơ thể cho dù bạn dùng cả chục loại xà bông tắm hay thuốc tẩy gì đi nữa. Cách tẩy mùi chồn skunk tốt nhất theo khuyến cáo là dùng hôn hợp hydrogen peroxide, baking soda và xà phòng rửa chén.

11Thỏ biển – Sea Hare

Th? bi?n - Sea hare (sea slug)

“Mùi” ở trong nước mang một ý nghĩa hoàn toàn khác với trên mặt đất hay trong không trung. Tuy nhiên, các loài cá như các mập hay động vật giáp xác dưới biển thường phản ứng rất tiêu cực với những loài mực độc hại. Và không có loài động vật biển thân mềm nào có độc tính nhiều hơn loài thỏ biển, chúng là một loại nhuyễn thể mềm nhỏ. Khi bị đe dọa, thỏ biển điên cuồng phát ra một đám mây mực như khí độc màu hồng tím, đám mây này nhanh chóng xâm lấn và sau đó làm ngắn mạch dây thần kinh khứu giác của ác loài ăn thịt chúng. Như vậy cũng chưa đủ, loài nhuyễn thể này cũng rất độc để có thể ăn, bởi da chúng được bao phủ một lớp chất nhờn gây kích ứng nhẹ. (Tuy nhiên, đối với con người, một số loài này được dùng làm món ăn chiên rán ở Trung Quốc.)

11 loài vật sống lâu nhất hành tinh

0
M?i chúa - Loài côn ùng s?ng lâu nh?t th? gi?i

Loài người có phải là loài vật sống lâu nhất? chắc chắn là không rồi.

Loài người chúng ta thường tự hào về khả năng duy trì tuổi thọ dài lâu, nhưng khi xét về khía cạnh tuổi thọ, loài người chưa bao giờ vượt qua được thế giới các loài động vật như cá mập, cá voi, các loài lưỡng cư hay loài nghêu. Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá 11 loài vật sống lâu nhất hành tinh.

1Loài côn trùng sống lâu nhất – Mối Chúa (50 năm)

M?i chúa - Loài côn ùng s?ng lâu nh?t th? gi?i

Chúng ta thường nghĩ rằng các loài côn trùng chỉ sống được vài ngày hoặc vài ba tuần. Bất cứ một tổ mối nào cũng ít nhất được “cai trị” bởi mối chúa (Queen Termite) và mối vua. Sau khi được thụ tinh bởi con đực, mối chúa từ từ tăng dần số lượng trứng đẻ ra, ban đầu là chỉ vài chục trứng và cuối cùng đạt tới số lượng 25.000 trứng mỗi ngày. Nếu không bị săn mồi bởi các loài khác, mối chúa có thể sống tới 50 năm, và mối vua cũng có tuổi thọ tương đương vậy. Đối với những con mối thợ thông thường, chúng chỉ sống được tối đa một hoặc hai năm.

2Loài cá nước ngọt sống lâu nhất – Cá chép Koi (50 năm)

Cá chep koi - loài cá s?ng lâu nh?t th? gi?i

Ở trong tự nhiên, các loài cá thường sống được khoảng vài năm và như loài cá vàng nuôi trong bể được chăm sóc kỹ càng cũng may mắn lắm thì sống lâu được khoảng 10 năm. Nhưng hiếm có loài cá nào trên thế giới có thể khiến con người say mê như cá koi. Là một loài cá chép nội địa ở Nhật bản, nhưng cá koi có thể chịu được nhiều điều kiện môi trường sống khác nhau. Tuy nhiên, với lớp da nổi bật, chúng không được “trang bị” bất cứ thứ gì mạnh mẽ để có thể chống lại các loài ăn thịt chúng. Một số cá koi có thể sống tới 200 năm, nhưng các nhà khoa học ước tính trung bình chúng chỉ sống khoảng 50 năm đổ lại, như vậy đã sống lâu hơn các loài cá nuôi nhốt khác rất nhiều.

3Loài chim sống lâu nhất – Vẹt Macaw (100 năm)

V?t Macaw - loài chim s?ng lâu nh?t th? gi?i

Loài vẹt Macaw đựợc ví như một những người nông dân điển hình. Loài chim này có màu sắc sặc sỡ, chúng sống chung thủy trăm năm với bạn đời. Con cái có nhiệm vụ ấp trứng và chăm sóc con non, trong khi đó con đực đảm nhiệm công việc kiếm mồi về. Chúng có một cuộc sống gần giống như con người, sống già tới 60 năm trong tự nhiên và có khả năng sống tới 100 năm. (Có một điều trớ trêu tàn nhẫn là chúng đang chịu đựng mức sống với tuổi thọ thấp hơn mong đợi, rất nhiều phân loài của chúng đang bị đe dọa, nguyên do sự săn bắt nuôi nhốt làm thú cưng quá mức và sự tàn phá của môi trường sống trong các khu rừng mưa nhiệt đới).

4Loài động vật lưỡng cư sống lâu nhất – Kỳ Nhông Hang Động(100 năm)

K? nhông hang ??ng - loài l??ng c? s?ng lâu nh?t

Khi nói về danh sách những loài vật sống lâu nhất tới cả thế kỷ, chúng ta thường bỏ qua hoặc đặt dưới danh sách loài kỳ nhông hang động (Cave Salamander) hay còn gọi là kỳ nhông mù (blind salamander) – Proteus anguinus. Làm sao một loài vật yếu ớt mong manh, đôi mắt dường như mù lòa, và sống trong hang động tăm tối và chỉ dài cỡ 15cm lại có thể sống trong tự nhiên lâu hơn được dăm ba tháng? Các thuộc tính tự nhiên về tuổi thọ của kỳ nhông hang động đều chỉ ra sự chuyển hóa chậm chạp của nó. Loài kỳ nhông mất tới 15 năm để  phát triển trưởng thành. Chúng đẻ trứng theo chu kỳ 12 năm hoặc hơn, chúng hiếm khi di chuyển ngoại trừ lúc tìm kiếm thức ăn. Chúng sống trong hang động nên dường như không có kẻ thù ăn thịt. Điều này giúp kỳ nhông hang động sống lên tới cả thế kỷ trong tự nhiên. (Thông tin thêm, loài kỳ nhông khổng lồ Nhật Bản chỉ sống hiếm khi vượt quá 50 năm).

5Loài linh trưởng sống lâu nhất – Loài Người (100 năm)

Con ng??i - loài linh tr??ng s?ng lâu nh?t

Loài người thường được ghi nhận là “loài vật sống lâu nhất” so với những loài linh trưởng khác. Có khoảng tới 500,000 người trên thế giới được ghi nhận là sống tới 100 tuổi. Khoảng 10 nghìn năm trước đây, loài người tinh khôn – Homo sapiens khi sống được khoảng 20 đến 30 tuổi thì được xem là đã già. Cho đến tận thế kỷ 18, loài người có tuổi thọ trung bình hiếm khi vượt quá 50 tuổi. Nguyên nhân chính là do tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh cao và quá nhiều căn bệnh truyền nhiễm lây lan gây tử vong; Thực tế trong suốt lịch sử loài người, nếu sống sót qua được độ tuổi vị thành niên thì tỉ lệ tuổi thọ của bạn có thể tăng lên tới 50, 60 năm. Điều gì khiến loài người chúng ta có thể tăng tuổi thọ? Đó chính là nền văn minh, sự khai hóa. Đặc biệt là các vấn đề về vệ sinh, dinh sưỡng và sự đoàn kết tương trợ lẫn nhau của loài người.

6Loài động vật có vú sống lâu nhất – Cá voi đầu cong (200 năm)

Loài cá voi s?ng lâu nh?t

Theo một quy tắc chung, loài vật có vú càng lớn càng có xu hướng có tuổi thọ dài hơn, nhưng thậm chí theo tiêu chuẩn vậy, loài cá voi đầu cong (Bowhead Whale) – Balaena mysticetus vẫn là một ngoại lệ, con trưởng thành thường xuyên sống quá 200 năm tuổi. Một phân tích gần đây về hệ gen của loài cá voi này đã làm sáng tỏ điều bí ẩn. Nghiên cứu chỉ ra rằng cá voi đầu cong sở hữu các bộ gen độc đáo giúp chúng sửa chữa các DNA và đề kháng với các đột biến gen (đồng nghĩa với khả năng chống lại các bệnh ung thư). Khi cá voi đầu cong sống ở Bắc Cực và các vùng biển cận Bắc Cực, sự chuyển hóa chậm chạp của chúng cũng có thể ảnh hưởng tới tuổi thọ. Hiện tại có khoảng 25000 các voi đầu cong sinh sống ở bán cầu bắc, kể từ năm 1966 đã có sự hồi phục về số lượng loài cá voi này.

7Loài bò sát sống lâu nhất – Rùa khổng lồ (200 năm)

Rùa kh?ng l?

Loài rùa khổng lồ ở quần đảo Galapagos và Seychelles là một ví dụ điển hình về hiện tượng “khổng lồ hóa trên đảo hoang” (Island gigantism) – Hiện tượng các loài động vật có xu hướng đạt tới hạn kích thước cơ thể khi không bị ảnh hưởng bởi loài thiên địch, chúng phát triển kích thước cơ thể lớn bất thường. Loài rùa này có cân nặng thuộc hàng khủng 450kg. Và chúng có thể sống trên 200 năm tuổi, ghi nhận những cá thể sống lâu nhất thường ở tầm 300 năm tuổi. Bằng chứng thể hiện rõ nhất việc sống thọ của loài rùa này chính là sự di chuyển rất chậm chạp, sự chuyển hóa cơ bản trong cơ thể chúng cực kỳ chậm, và các giai đoạn trong cuộc đời chúng tương đối dài, ví dụ như loài rùa khổng lồ Aldabra mất tới 30 năm để dậy thì, gần gấp đôi loài người.

8Loài cá mập sống lâu nhất – Cá mập Greenland (400 năm)

Cá m?p greenland

Cá mập Greenland (Squalus microcephalus) đúng ra nên được biết đến nhiều hơn, giống như loài cá mập trắng lớn, chúng thực sự có kích thước rất khủng (lên tới 900kg), càng kỳ lạ hơn khi chúng chỉ sống ở khu vực Bắc Cực. Loài cá mập này tương đối nguy hiểm, nhưng theo một cách hoàn toàn khác, không giống như cá mập trắng lớn có thể cắn đứt đôi con người làm hai nửa, thịt của loài cá mập greenland có thành phần hóa học chưá độc tố (trimethylamine N-oxide) đối với con người. Điều đáng chú ý nhất là tuổi thọ trên 400 năm của nó. Do môi trường nước đóng băng và sự chuyển hóa chậm trong cơ thể, các hợp chất bảo vệ methyl hóa ở trong cơ bắp. Đáng kinh ngạc hơn, chúng chỉ trưởng thành khi đạt 100 năm tuổi, giai đoạn tuổi mà với hầu hết các loài khác đã chết từ lâu.

9Loài động vật thân mềm sống lâu nhất – Ngao vỏ cứng (500 năm)

Ngao v? c?ng - loài nhuy?n th? s?ng lâu nh?t

Nghe có vẻ như đùa khi nói loài Ngao có thể sống tới 500 năm tuổi. Các nhà khoa học đã làm một cuộc điều tra về loài ngao vỏ cứng Arctica islandica, rằng chúng có thể sống tới hàng thế kỷ. (Bạn có thể xác định tuổi của các loài ngao, sò trai bằng cách đếm các vòng sinh trưởng trong vỏ của chúng). Một điều trớ trêu là loài ngao này được đánh bắt làm thực phẩm ở nhiều nơi trên thế giới, vì vậy hầu hết chúng ít có khả năng sống lâu tới mức tuổi trên. Nó sẽ là loài sống lâu nhất nếu không bị con người tác động.

10Loài vi sinh vật sống lâu nhất – Endoliths (10,000 năm)

Endoliths - Loài vi sinh s?ng lâu nh?t

Để xác định tuổi thọ của các loài vi sinh vật là một vấn đề phức tạp. Theo nghĩa nào đó, cacs loài vi sinh vật đều gần như bất tử, vì cách chúng truyền bá thông tin di chuyền của chúng bằng cách phân chia liên tục (không giống như các loài động vật bậc cao). Thuật ngữ “Endoliths” chỉ về các loài như vi khuẩn, nấm, amip hay rong tảo sống sâu dưới lòng đất, trong các khe đá. Các nghiên cứu chỉ ra rằng các cá thể của một số loài này chỉ phân chia tế bào mỗi lần hàng trăm năm. Điều này khiến cho tuổi thọ của chúng kéo dài lên tới 10 nghìn năm. Quan trọng hơn, Endoliths là loài tự dưỡng, nghĩa là chúng thúc đẩy sự trao đổi chất không thông qua khí oxi và ánh sáng mặt trời, bằng cách dùng các hóa chất vô cơ, những nguồn năng lượng này hầu như không bị cạn kiệt trong môi trường sống dưới lòng đất của chúng.

11Loài động vật không xương sống sống lâu nhất – Sứa bất tử (Gần như bất tử)

Loài s?a b?t t?

Gần như không có một cách tốt nhất nào để có thể xác định tuổi thọ trung bình của các loài sứa trong phòng thí nghiệm. Vì bản thân chúng rất mong manh, dẫn tới rất khó phân tích chuyên sâu. Tuy nhiên, hầu hết những danh sách các loài vật sống lâu nhất đều có mặt của loài sứa Turritopsis dohrnii. Chúng là một loài sứa có khả năng đảo ngược vòng đời của mình. Tuy nhiên rất khó có một cá thể có thể tồn tại tới hàng triệu năm. Chỉ vì chúng “bất tử” về mặt sinh học không có nghĩa là chúng không chịu tác động của môi trường xung quanh hay các loài vật ăn thịt khác. Do vậy loài sứa bất tử chỉ là loài vật sống lâu nhất trên lý thuyết.

Bài viết mới