Gấu Grizzly: Quyền Lực Tuyệt Đối Của Vùng Bắc Mỹ

0
6702
Gấu grizzly Bắc Mỹ
Photo: Jean Beaufort / Wikimedia Commons / CC0

Bạn có thể tin không, một chiếc móng vuốt của loài động vật này tự nhiên dài bằng ngón tay người trưởng thành. Chúng có thể vung tát ngang mặt đối thủ với lực đập nặng hàng trăm kilogram, đủ sức làm nứt vỏ một cái cây nhỏ hoặc làm móp méo cả những chiếc xe hơi kiên cố nhất.

Gấu grizzly hay còn gọi là gấu xám Bắc Mỹ là biểu tượng đáng sợ cuối cùng của vùng Bắc Mỹ hoang dã. Khối cơ bắp cuồn cuộn mọc nhô cao trên vai như một ngọn núi nhỏ, bộ lông nhuốm màu bạc bắt sáng và bản bản năng sinh tồn khắc nghiệt biến chúng thành kẻ săn mồi hoàn hảo. Ngay cả những bầy sói xám ranh mãnh nhất, khi nhìn thấy bóng dáng con vật nặng ba tạ này lững thững tiến tới con mồi của đàn sói, chúng cũng lẳng lặng rút lui vào rừng sâu.

Tên khoa họcUrsus arctos horribilis
Phân loạiĐộng vật có vú (Mammalia), Bộ ăn thịt (Carnivora), Họ Gấu (Ursidae)
Tình trạng bảo tồnÍt quan tâm (LC – IUCN), nhưng bị đe dọa cục bộ ở Mỹ
Chiều cao1 – 1,5m tới vai; Đứng bằng hai chân cao 2 – 2,5m
Khối lượng130 – 360 kg (cá biệt đực trưởng thành lên tới 400 kg)
Phân bố tự nhiênMiền Tây Bắc Mỹ, Alaska hoang dã và một phần Canada

Đặc điểm nhận dạng: Cơ bắp cuồn cuộn và cỗ máy đào đất

vuốt gấu grizzly
Photo: Pierre5018 / Wikimedia Commons / CC BY-SA 4.0

Nếu chỉ quan sát từ xa, rất dễ nhầm lẫn giữa một con gấu đen Bắc Mỹ và một con gấu grizzly sở hữu lông sẫm màu. Tuy nhiên, thiên nhiên đã trang bị cho loài gấu xám hai đặc điểm nhận diện vô cùng rõ ràng.

Đáng chú ý nhất là khối cơ bắp rắn chắc gồ cao nằm trên xương bả vai. Khối u bả vai đóng vai trò như kết cấu cốt thép khổng lồ, kết nối trực tiếp vào chi trước, cung cấp cho chúng sức mạnh vĩ đại để nhổ rễ cây, lật tung các phiến đá nặng hoặc xé toạc tổ kiến. Khối cơ bắp này làm nên dáng đi hơi gù đặc trưng. Khi chạy nước rút, mảng cơ vai sẽ ép lại và đẩy cơ thể con thú lao về phía trước, đạt tốc độ lên tới 55 km/h, chạy nhanh hơn cả thỏ rừng trên địa hình gồ ghề.

Đặc điểm nhận diện thứ hai nằm ở bộ móng vuốt chân trước. Năm ngón chân sở hữu bộ vuốt có thể dài tới 10 centimet và mọc tương đối thẳng. Cấu trúc móng này khiến gấu trưởng thành gần như không thể leo trèo trên những thân cây cao vút như gấu đen. Bù lại, bộ móng vuốt dài biến thành công cụ cuốc xới chuyên dụng. Chúng cày sâu lớp đất đông lạnh như một lưỡi gàu múc để moi tìm củ rễ, động vật gặm nhấm nhỏ hay các ụ kiến béo bệu.

Phần sống mũi của gấu grizzly hơi lõm xuống ở giữa trán, tạo ra khuôn mặt khá bặm trợn. Bộ lông của chúng xù xì, màu sắc đa dạng từ vàng sáng đến nâu đậm. Phần chóp lông của loài này thường ngả bạc, phản chiếu ánh sáng lấp lánh như bị nhuốm bạc. Đây là nguyên nhân xuất hiện thuật ngữ “grizzled”, làm nên cái tên danh tiếng của loài sinh vật này.

Môi trường sống và tàn tích lịch sử

Xưa kia, gấu grizzly vĩ đại từng làm chủ một vùng lãnh thổ bao la kéo dài từ Alaska băng giá ở cực Bắc, tràn qua bình nguyên mênh mông, xuống đến phần đất đầy cát nóng ở thảo nguyên Mexico. Số lượng quần thể đông đảo trải rộng khắp sườn đồi, nơi không loài hoang dã nào dám thách thức vùng cấm địa.

Thế nhưng, sự mở rộng dân sinh của con người đã thay đổi tận gốc sự phân bố. Khu vực sinh tồn của gấu grizzly ở 48 tiểu bang hạ vùng nước Mỹ đã thu hẹp khốc liệt tới 98%. Quần thể lớn hiện nay chỉ còn bó gọn lại trong một số “hòn đảo xanh” cuối cùng như Vườn quốc gia Yellowstone nằm vắt qua các bang Montana và Wyoming.

Việc bị bó hẹp trong các khu vực dân cư cắt ngang khiến gấu thường xuyên đụng độ con người. Nhiều con gấu buộc phải băng qua hệ thống đường nhựa, và thường phải nhận lấy kết cục xấu khi đi lang thang kiếm thức ăn sục sạo trong trang trại địa phương. Hiện tại, chỉ còn hệ sinh thái rừng núi Alaska biệt lập mới là nơi đàn gấu grizzly sinh trưởng mạnh mẽ xung quanh dòng sông băng dồi dào phù du.

Chế độ ăn “nghịch lý” của kẻ săn mồi đỉnh bảng

gấu grizzly con
Photo: Charles J Sharp / Wikimedia Commons / CC BY 2.5

Với hình hài cao tới gần một mét rưỡi đến vai và cân nặng tới ba bốn tạ, người ta hay mường tượng gấu grizzly thức dậy chỉ để truy sát những con nai khổng lồ tứa máu.

Thực tế mang lại một nghịch lý khác hẳn. Gấu grizzly có thể gọi là “cỗ máy ăn chay” vĩ đại khi thực vật, cỏ non, củ rễ và quả mọng nước chiếm tới 90% khẩu phần ăn hàng ngày. Một cá thể đồ sộ có thể tiêu tốn nhiều canh giờ mỗi ngày chỉ để kiên nhẫn vặt từng quả việt quất nhỏ xíu đưa vào miệng.

Tất nhiên, thịt thà vẫn đóng vai trò chính yếu để lấp đầy kích thước cơ thể rắn chắc đó. Sự sung túc của chúng gắn liền với hoạt động bơi ngược sông băng của đàn cá hồi rực đỏ vào lễ hội mùa đẻ trứng. Những con gấu béo núc sẽ đứng chặn trên các con thác nước đổ tạt và ngậm gọn lấy cá hồi bằng cú cắn linh hoạt đầy tốc độ. Một gấu grizzly lớn bụng đói khao khát có khả năng đớp vội lượng bao tử dồn dập đến 40kg thịt cá liên tiếp vào mỗi ngày trong vài tuần cuối hè trước khi đối diện tuyết tan ngập úng mùa đông.

Mùa ngủ đông và sinh sản

gấu grizzly bắt cá hồi
Photo: Brian W. Schaller / Wikimedia Commons / FAL

Khi mùa đông dốc đổ mang theo hạt tuyết dày đặc che giấu toàn bộ nguồn thức ăn, gấu grizzly sẽ tự đi tìm hang động hoặc đào tổ mới dưới rễ cây để bắt đầu kỳ ngủ đông dài hạn.

Chúng sẽ cuộn tròn lịm đi từ 5 đến 7 tháng liên tiếp. Cả một mùa tuyết phai, con vật khô cằn tuyệt nhiên không tìm kiếm miếng ăn, không uống một giọt nước và hoàn toàn ngừng hẳn chức năng bài tiết. Trạng thái cơ thể này điều chỉnh nhịp tim từ 40 nhịp/phút xuống vỏn vẹn còn khoảng 8 nhịp/phút. Thân nhiệt hạ xuống nhẹ nhàng đủ mức cần để không làm đóng băng các chi và toàn bộ nguồn năng lượng trao đổi được lấy ra từ lớp mỡ tích tụ dày chục phân dưới da.

Điều kỳ diệu nhất diễn ra ngay giữa giấc ngủ triền miên này: con mẹ sẽ rặn đẻ ở bóng tối buốt giá. Một đôi gấu con mới lọt lòng hang nhám chỉ nặng khoảng 400 gram (con số bé hơn cả quả cam tây), chưa hề mở mắt và chưa mọc một cọng lông. Bản năng tự nhiên định hướng chúng tự bò đến bầu sữa gấu mẹ, hút nguồn dưỡng chất nóng hổi chứa đến 30% hàm lượng béo ngậy. Gấu sơ sinh sẽ theo phe chân mẹ tìm học cách đẽo lõi cây và rình mồi cho đến tận hai năm trước khi tách bóng bước ra làm quen một mình cõi thế giới sinh linh.

Câu chuyện sinh tồn và góc nhìn từ Việt Nam

Trên sổ thống kê danh sách đỏ, loài gấu nâu nói chung đang được IUCN xếp ở hạng mục Ít quan tâm nhờ quần thể lớn khổng lồ liên bang tại toàn bộ vùng ôn đới Âu-Á. Tuy nhiên, nếu xét về quần cư gấu grizzly mang danh tiếng đáng sợ sinh sống dọc trong lục địa Hoa Kỳ, các bang đã phải thành lập cơ số vùng định khu gắt gao nhằm cố bảo toàn sinh thái.

Nếu kết nối lại tới hình tượng hoang dã ở rừng nhiệt đới Việt Nam, các nhà động vật học thường quan sát người anh em cùng họ nhà gấu là loài gấu ngựa hay gấu chó. Mang mức dao động khối lượng rất bé từ 100 tới 150 kg – quá khiêm tốn so với đỉnh cân 300-400 kg của grizzly – gấu ngựa tự điều chỉnh khuôn khổ bộ gen sinh thái để sống nương nhờ. Lợi thế đặc sắc làm gấu hoang dã nước nhà bấu chặt sống sót bằng bộ móng cong cúp dài tứa chọc bứt gốc leo trèo nhanh, đung đưa lấy mật qua tổ nhện cành cây dẻ dẻo vút.

Gấu grizzly lại đối đầu sinh cơ trên mảnh đất bình nguyên thảo dã rộng hoang vu không rợp bóng che thân. Phương án sống chui lẩn bị cắt bỏ ở giữa bầy hoang dã làm chúng bắt buộc tiến hóa đến sự rắn chắc gân cốt, mang gù trên lưng và sẵn lòng lao giáp lá cà bất cứ khi nào chó sói thèm khát mon men tranh giành mớ da non thú vị.

Câu hỏi thường gặp

Lực cắn của gấu grizzly là bao nhiêu?

Lực cắn của gấu grizzly đạt tới 1160 PSI (pound trên inch vuông). Đây là lực ép đủ dễ dàng xé rách lớp da dày, nghiền vỡ nát một khúc xương đùi bò mộng, hoặc cắn vụn một quả bóng bowling. Hệ cơ hàm này giúp cơ thể chúng nghiền nát con mồi nhanh chóng.

Gấu xám Bắc Mỹ grizzly chênh lệch với gấu nâu thế nào?

Từ cấp độ sinh học, gấu grizzly thực chất là một phân loài của nhánh gấu nâu chung. Tên gọi “grizzly” chủ yếu dùng để gọi quần thể phân bổ sống tại khu vực sâu trong đất liền Bắc Mỹ để phân biệt với dạng gấu nâu ven biển đảo Kodiak thích bắt cá.

Chúng có hay tấn công người đi rừng?

Gấu có tính tự vệ chống xâm phạm lãnh thổ vô cùng gắt so với những nhánh họ hàng bầy thú hiền dịu. Tính nóng tính hung dữ bột phát ở lúc bất ngờ hoảng hốt bóp nghẹt tại cự ly đối mặt hoặc đe doạ trực tiếp tới đàn con nhỏ dại. Thế nhưng đa số người tham quan nếu gặp chớp khoảng cách tự tôn thì thú hoang thông thường sẽ tìm đường lui tháo chạy trước.

Kẻ thù trong tự nhiên của loài gấu này là ai?

Một con grizzly trưởng thành trên cánh rừng bình địa chẳng còn bị ai truy đuổi ngoại trừ chính sức khoẻ đập xé bởi cuộc chạm trán điên loạn ở mùa phát nhiệt cùng giống nòi hùng mạnh khác. Ranh thú nhỏ gấu con gặp bất an thình lình thỉnh thoảng đụng mặt nanh vuốt tàn sát từ chó sói nếu chẳng may dạt xa bóng nắp lưng bờ vai vững chãi phụ huynh sinh tử.

Tại sao chúng lại thích cọ xát lưng trên gốc cây?

Đứng ngả dài lưng lên trên hai chi phía sau cọ chà ở mặt vỏ cứng là biện pháp liên hệ với nhiều đồng loại khác băng rừng. Sát cọ bằng vùng tuyến mỡ nách để lưu thông cáo hóa học vạch lãnh án ranh chủ quyền trên mảng chéo đường mòn lấp gai. Thêm điều lợi ích khi giúp chú gấu xả bỏ vứt mớ lông chấy phiền muộn cọ ngứa khi đón thay một tấm bộ lông mượt mà mùa màng xuân.

Hình ảnh một con gấu grizzly khổng lồ đứng sừng sững trên thảo nguyên hoang dã mãi là một trong những cảnh tượng tráng lệ và kính sợ bậc nhất thiên nhiên miền đất Bắc Mỹ.


Tài liệu tham khảo:

1. “Grizzly bears”, National Wildlife Federation (NWF) 2. Sách đỏ IUCN: “Ursus arctos”, IUCN Red List of Threatened Species 3. Báo cáo tình trạng động vật Yellowstone: “Yellowstone Grizzly bears”, National Park Service (NPS)

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here