Cò và Diệc: Hai loài chim chân dài, cổ cao thanh thoát – Làm thế nào để phân biệt?

0
Phân biệt diệc và cò có gì khác nhau.

Nếu bạn thấy một con chim cao, cổ dài đang rình mồi dọc theo bờ hồ, đó có thể là một con diệc hoặc . Nhưng làm thế nào để biết bạn đã thấy loại nào? Và điểm khác biệt giữa chúng là gì? Chúng ta sẽ cùng khám phá điều này ngay sau đây.

Diệc là loài chim gì?

Trước khi tìm hiểu sự khác biệt giữa diệc, có một câu hỏi quan trọng cần trả lời: Khi nói về  chim diệc, chúng ta đang nói đến loài nào? Từ “diệc” có thể dùng để chỉ bất kỳ loài nào trong họ Ardeidae – một nhóm lớn gồm những loài chim chân dài, cổ dài, thường sống gần nước. Điều này bao gồm những loài chúng ta thường gọi là diệc, diệc đầm lầy. Vì vậy, tất cả các loài đều là diệc, nhưng không phải tất cả diệc đều là !

Trong bài viết này, khi nói về diệc, chúng ta đang nói cụ thể về loài diệc xám, có tên khoa học là Ardea cinerea.

Diệc xám lớn. Ảnh Sonika Agarwal / Unsplash

Cách phân biệt cò và diệc

Có một cách rất dễ để phân biệt cò và diệc, ít nhất là ở Vương quốc Anh – cò có màu trắng sáng! Diệc xám, như tên gọi của nó, chủ yếu có màu xám. Đây là một loài chim lớn, thân hình to, với đôi chân cực kỳ dài, có màu từ xám đậm đến hồng hoặc vàng.

Phân biệt diệc và cò có gì khác nhau.

Nó có lưng màu xám, phần dưới nhạt hơn và cổ dài màu xám hoặc trắng. Đầu màu trắng với những vệt đen đặc trưng ở hai bên đỉnh đầu kéo dài thành một chùm lông mỏng. Mỏ của nó to và sắc như dao, chuyển từ màu vàng xám sang cam vào mùa xuân.

Nếu bạn thấy một con chim trắng, chân dài, cổ dài và mỏ nhọn, đó gần như chắc chắn là một con cò, nhưng là loại cò nào? Cho đến gần đây, việc nhìn thấy cò ở Anh là rất hiếm. Nhưng trong vài thập kỷ qua, ba loài cò khác nhau đã di cư từ châu Âu lục địa và bắt đầu sinh sản ở đây. Cò trắng nhỏ là loài đến đầu tiên, sau đó là cò bò và cò trắng lớn.

Cách nhận biết các loài cò khác nhau

Cò trắng lớn (Ardea alba) là một loài chim trắng lớn, không ngạc nhiên khi nó có kích thước tương đương với diệc xám, nhưng mảnh mai và thanh thoát hơn. Nó có cái cổ rất dài, thường uốn cong thành hình chữ “s”. Mỏ của nó thon hơn mỏ của diệc và có màu vàng tươi – nhưng sẽ chuyển sang đen trong vài tuần vào mùa sinh sản. Chân và bàn chân của nó có màu tối, nhưng phần trên của chân có thể nhạt hơn.

Photo by Bob Brewer on Unsplash

Cò trắng nhỏ (Egretta garzetta) cũng có màu trắng sáng, nhưng kích thước chỉ bằng một nửa diệc xám. Mặc dù nó có cổ rất dài, nhưng khi không săn mồi, nó có thể rụt cổ lại, trông như không có cổ. Mỏ và chân của nó màu đen hoặc xanh xám. Đặc điểm dễ nhận biết là chân màu vàng – rất nổi bật nếu không bị che bởi cỏ, bùn, hoặc nước. Vào mùa hè, nó phát triển hai chùm lông trắng dài từ phía sau đầu.

Photo by Zeki Binici on Unsplash

Cò bò (Bubulcus ibis) là loài cò nhỏ nhất và chắc nịch nhất trong ba loài cò. Nó có cổ và chân ngắn hơn nhiều so với cò trắng nhỏ, tạo nên dáng vẻ gọn gàng hơn. Mỏ của nó cũng ngắn và mập hơn. Phần lớn thời gian mỏ của nó có màu vàng, nhưng vào mùa sinh sản sẽ chuyển sang màu hồng. Giống như các loài cò khác, nó có lông trắng, nhưng trong mùa sinh sản, lông ở đỉnh đầu, ngực và lưng có màu cam hoặc vàng nâu. Dấu vết màu này có thể tồn tại lâu hơn cả mùa sinh sản.

Photo by Stuart Bartlett on Unsplash

Nơi tìm thấy diệc và cò

Diệc xám có thể được tìm thấy trên hầu hết các vùng của quần đảo Anh, thường là gần nước như sông, hồ, mương và cánh đồng ngập nước. Thậm chí chúng săn mồi trong các vũng đá ven biển. Cò trắng lớn và cò trắng nhỏ có sở thích môi trường sống tương tự với diệc xám và thường xuất hiện tại các vùng đầm lầy. Cò trắng nhỏ đặc biệt ưa thích các vùng cửa sông.

Cò bò thường xuất hiện xa nguồn nước hơn so với các loài khác. Chúng thường kiếm ăn trên các cánh đồng, đi theo sau những đàn bò và ngựa. Ở những nơi khác trên thế giới, chúng sống thành đàn lớn, nhưng ở đây, chúng thường xuất hiện đơn lẻ, theo cặp hoặc thỉnh thoảng thành nhóm nhỏ.

Diệc và cả ba loài cò đều làm tổ theo đàn, thường ở những cây gần nguồn nước. Không hiếm khi thấy các loài khác nhau cùng làm tổ trong một đàn. Ngoài mùa sinh sản, chúng cũng tập trung lại để nghỉ ngơi qua đêm.

Cách diệc và cò săn mồi

Diệc xám và cò trắng lớn có cách săn mồi khá giống nhau. Bạn sẽ thường thấy chúng đứng yên trong thời gian dài, hoặc từ từ di chuyển với những bước đi cẩn thận, nhìn chằm chằm xuống nước. Bất ngờ, chúng sẽ lao mỏ xuống nước để bắt cá.

Cò trắng nhỏ lại có phương pháp khác. Chúng đi chậm rãi qua vùng nước nông, thỉnh thoảng dừng lại để đưa một chân ra trước và nhanh chóng lắc lư. Động tác này khuấy động mặt đáy và làm các loài cá nhỏ và sinh vật khác hoảng loạn, tạo cơ hội cho cò bắt mồi. Bàn chân màu vàng sáng của chúng được cho là giúp làm xáo động con mồi.

Như đã đề cập, cò bò thường được tìm thấy xa nước, trên những cánh đồng có gia súc. Bạn sẽ thấy chúng đi theo những động vật ăn cỏ, săn các loài côn trùng và động vật nhỏ bị làm động. Chúng đi bộ phía sau những con vật gặm cỏ, đôi khi chạy nhanh khi phát hiện con mồi.

Có loài nào khác có thể bị nhầm lẫn với diệc hoặc cò không?

Có một loài chim lớn màu trắng khác đang ngày càng phổ biến ở một số khu vực tại Anh – cò thìa. Như tên gọi, điểm đặc trưng của nó là chiếc mỏ dài màu đen mở rộng ra ở cuối như một chiếc thìa. Khi nghỉ ngơi, cò thìa giấu mỏ trong lông, nhưng tư thế của nó vẫn dễ nhận biết. Cò thìa có dáng nằm ngang khá giống ngỗng khi nghỉ ngơi, trong khi cò thường có tư thế cứng và thẳng đứng hơn.

Tại sao sư tử đực lại có bờm?

0

Tại sao trong tất cả các loài họ mèo chỉ có mỗi sư tử có bờm? Khoa học hiện đại đã có một vài giả thuyết giải thích cho việc này, nhưng đấy vẫn chưa phải là những câu trả lời thuyết phục. Cho đến tận năm 2002, Peyton West là một sinh viên tốt nghiệp ĐH Minnesota làm việc tại Công viên Quốc gia Serengeti, đã giải quyết câu hỏi về bờm sư tử bằng loạt những thử nghiệm. West chỉ ra rằng bờm sư tử là một biểu hiện đại diện cho sức mạnh của một con sư tử đực. Cô đã làm một loạt thí nghiệm bằng cách dùng những con sư tử đực hình nộm có kích thước giống thực tế, bao gồm nhiều màu lông dài ngắn kết hợp pha trộn, sau đó sư tử hình nộm được đưa ra ngoài tự nhiên để thử nghiệm phản ứng của những con sư tử khác. Kết quả thu được những con sư tử cái thường nhìn vào bờm của sư tử đực để lựa chọn bạn giao phối tốt nhất. Còn sư tử đực dùng bờm để đánh giá sức mạnh của sư tử đực đối thủ để tránh va chạm với một đối thủ mạnh hơn.

Sư tử đực bắt đầu phát triển bờm khi chúng sắp đến tuổi có thể giao phối, bờm sẽ tiếp tục phát triển cho đến khi chúng đạt 4-5 tuổi. Bờm của một con sư tử phản ánh điều kiện sức khoẻ của nó, một con sư tử bị thương sẽ có lông ngắn và rời rạc hơn.

West kết hợp các kết quả thử nghiệm với dữ liệu 30 năm thu thập số lượng sư tử ở Serengeti. Cô nhận ra rằng bờm sư tử càng tối màu thì chúng thường có hàm lượng testosterone cao, nghĩa là chúng khả năng chiến đấu mạnh hơn. Sư tử đực hung tợn có khả năng chiến đấu lại nhiều con sư tử đực khác có bờm nhỏ sáng màu hơn. Sư tử đực có bờm đen sẽ có tuổi thọ cao hơn, có khả năng sống sót và hồi phục nhanh khi bị thương nặng, con non của nó khi sinh ra cũng có tỷ lệ sống sót đến tuổi trưởng thành cao hơn trong toàn bộ dữ liệu thu thập.

Ngai vị bá chủ thống trị bầy đàn của một con sư tử được coi là biểu tượng mà nhiều con sư tử đực đều muốn hướng tới. Sư tử đực ở trong điều kiện sức khoẻ tốt nhất sẽ có bờm gần đen hoàn toàn, sư tử cái chọn con đực tốt nhất bởi nó là điều kiện tăng tỉ lệ con non của nó sống sót khoẻ mạnh. Con đực sẽ tránh nhiều nhất có thể mọi tình huống đối đầu với đối thủ mạnh hơn chúng, nghĩa là chúng sẽ nhìn bờm đối thủ để đánh giá sức mạnh.

Trong khi sư tử cái chiếm 90% công việc săn mồi, sư tử được thường bắt những con mồi to lớn hơn như trâu rừng châu Phi nặng (455 kg).

Phải mất một khoảng thời gian để một con sư tử đực từ khi sinh ra cho đến năm 2 tuổi, chúng sẽ có khả năng giúp đỡ những con sư tử cái trong đàn đi săn mồi. Sư tử cái trẻ thường sống với đàn của nó suốt đời, sư tử đực thường tách khỏi đàn sớm.

Loài sư tử đã từng lang tháng khắp hầu hết châu Phi, châu Âu, Trung Á và một phần ở Ấn Độ. Đã có dấu hiệu chúng từng có mặt ở Sri Lanka. Ngày nay theo số liệu tháng 6/2020 có khoảng 674 sư tử châu Á sống trong khu vực rừng Gir phía tây Ấn Độ.

Khi dân số loài người bùng nổ khắp châu Phi, số lượng sư tử cũng suy giảm theo, chúng bị phân rã và cô lập môi trường sống. Sinh cảnh sống của sư tử bị xáo trộn, con người sẽ càng ít gặp hơn những con sư tử có bờm đen lang thang ngoài tự nhiên.

Hạnh phúc vỡ oà khi lần đầu làm mẹ của cụ rùa ở tuổi 80

0

Trong khi hầu hết các loài động vật đều khó có thể sống đến 80 năm thì kì tích đã xuất hiện khi một cụ rùa tên là Nigrita lần đầu tiên mang thai và sinh con ở lứa tuổi mà không ai ngờ đến. Điều ngạc nhiên hơn cả là Nigrita được xếp vào danh sách loài có nguy cơ bị tuyệt chủng.


Native to the islands with the same name, the Galapagos tortoise are the largest tortoise species, weighing up to 900lb. They are also able to live more than 150 years. Unfortunately, back in the 70s, the species was at the verge of extinction with only ten individuals left in the wild. She also happens to be making a big difference for her endangered species

Cụ rùa Nigrita 80 tuổi hiện đang sống tại vườn thú Zurich, Thuỵ Sĩ. Nigrita thuộc giống rùa khổng lồ Galapagos

Trọng lượng cơ thể lên đến 900 pound và tuổi thọ trung bình hơn 150 năm. Tuy nhiên vào những năm của thập niên 70, loài rùa Galapagos đứng bên bờ tuyệt chủng khi mà chỉ còn 10 cá thể tồn tại trong tự nhiên. Chính vì thế mà lần mang thai này của cụ rùa Nigrita có một ý nghĩa hết sức quan trọng giúp bảo tồn và duy trì nòi giống của rùa Galapagos.

Nigrita đã cho ra đời lứa trứng đầu tiên trong năm nay. Việc mang thai và đẻ con ở độ tuổi 80 là việc hết sức bình thường đối với loài Galapagos.

Trên thực tế, rùa Galapagos chỉ bắt đầu thời kì sinh sản khi chạm ngưỡng 40 tuổi. Chúng được biết đến là một trong số động vật sống lâu nhất trên Trái đất. Xét theo vòng đời của loài Galapagos thì Nigrita hiện đang trong giai đoạn phát triển đỉnh cao. Mặc dù có thể sống đến tận 150 năm nhưng dưới tác động của con người cùng với mối nguy hiểm từ kẻ thù săn mồi dẫn đến số lượng loài rùa Galapagos đang bị đe doạ. Cụ rùa Nigrita và chín rùa con nhận được sự chăm sóc và theo dõi đặc biệt theo chương trình nhân giống tại vườn thú Zurich. Cùng với những con rùa khác, Nigrita đã cứu loài Galapagos khỏi cảnh tuyệt chủng.

Câu chuyện cảm động về một tình bạn đẹp giữa chú bò mù và bé bê con

0

Câu chuyện cảm động về một tình bạn đẹp giữa chú bò mù và bé bê con

Blind and lonely bison is ignored by all other animals, but then she met Oliver – Animal Stories

Một chú bò tên là Helen khi sinh ra đã không được may mắn với đôi mắt mù loà, chính vì khiếm khuyết đó mà kể từ khi được đưa đến khu bảo tồn Lighthouse, ở Oregon, Helen gần như khép mình với thế giới bên ngoài và tự ti trước những loài động vật khác cũng được nuôi dưỡng tại đây. Tưởng chừng như Helen sẽ sống trong sự cô độc đến cuối đời, thì sự xuất hiện của bê con Oliver đã giúp thay đổi hoàn toàn số phận của Helen.



The young Oliver calf was curious from birth and soon managed to break down the barriers that Helen had constructed around herself.

Sau khi được giải cứu và chuyển đến khu bảo tồn vào năm 2016, Helen gần như không tiếp xúc với bất cứ ai. Những con vật khác cũng tỏ ra xa lánh và từ chối làm bạn với nó. Các nhân viên tại khu bảo tồn lo ngại rằng chính sự cô đơn diễn ra trong nhiều năm sẽ sớm giết chết Helen. Nhưng may thay, chú bê con xinh xắn Oliver sống cùng mẹ Betsy trong khu bảo tồn là người duy nhất chủ động làm quen kết thân với Helen. Từ đây cuộc đời của Helen như bước sang một trang mới.

“Betsy cảm thấy rất an tâm và hài lòng khi giao Oliver cho Helen trông coi hộ. Nó thường sẽ đứng từ xa quan sát trong khi Helen và Oliver chơi đùa cùng nhau”, Jakubisin – một nhân viên của khu bảo tồn chia sẻ.

Jakubisin cho biết thêm: “Tôi đã vô cùng ngạc nhiên khi chứng kiến cảnh Helen và Oliver chải chuốt lông cho nhau, Helen chưa từng có cơ hội làm việc này trước đây, có lẽ giờ đây nó đã thoả mãn mong ước làm mẹ bấy lâu khi được tận tay chăm sóc cho đứa con bé bỏng của mình”

Tình bạn chân thành này đã mang lại những giá trị tích cực cho cả Helen và Oliver. Chú bò Helen thì trở nên mạnh mẽ và tự tin hơn bao giờ hết, còn bê non Oliver lại như có thêm một người mẹ thứ 2, luôn sẵn sàng yêu thương và chăm lo cho nó.

Công việc của các nhân viên khu bảo tồn là giải cứu các động vật bị ngược đãi tại các nông trại, điều trị, giúp chúng phục hồi cả về thể xác lẫn tinh thần. Các nhân viên tại đây luôn nỗ lực tạo ra một mái ấm thực sự cho tất cả các con vật đã từng chịu nhiều tổn thương và thiệt thòi. Theo số liệu đăng tải trên trang Web thì khu bảo tồn hiện là nơi cư trú của hơn 200 loài động vật bao gồm lợn, bò, ngựa, gà, cừu và dê.

Sứ mệnh của đội ngũ nhân viên khu bảo tồn là làm sáng tỏ được thực trạng và điều kiện sống của động vật nuôi tại các nông trại, từ đó giúp nâng cao nhận thức về trách nhiệm và lòng nhân ái của những chủ nông trại dành cho vật nuôi của mình.

Một dòng chia sẻ có viết: “Ở khu bảo tồn Lighthouse, chúng tôi tin rằng cũng giống như con người, mỗi loài vật đều có quyền được hưởng sự tự do bình đẳng như nhau. Sẽ không còn sự đau đớn, nỗi sợ hãi và tình trạng áp bức ở thế giới động vật. Chúng tôi cam kết cùng đồng hành, sẻ chia và chăm sóc cho những con vật với mảnh đời bất hạnh. Mỗi một con vật sẽ được sống độc lập là chính mình”

Nguồn: Internet

Bật khóc trước cảnh chú Koala con ôm mẹ không rời trong giây phút ngàn cân treo sợi tóc

0

Hình ảnh một chú chuột túi 6 tháng tuổi có tên là Phantom luôn túc trực cạnh Koala mẹ trong suốt ca phẫu thuật đã lấy đi không ít nước mắt của người xem

Baby Koala Hugs Unconscious Mom During Life-Saving Surgery

Sau một vụ tai nạn xe ô tô xảy ra tại Úc, một cặp mẹ con gấu koala đã được đưa đến bệnh viện gần đó. Trong khi chú gấu koala con may mắn không gặp bất cứ chấn thương nào, thì gấu túi mẹ Lizzy lại bị chẩn đoán là xệp phổi và chấn thương vùng mặt.

Baby Koala Hugs Unconscious Mom During Life-Saving Surgery

Trước khi tiến hành ca phẫu thuật, các bác sĩ thú y tại đây đã quyết định để chú gấu Phantom bé bỏng được ở cạnh đồng hành cùng mẹ mình trong suốt quá trình phẫu thuật khá căng thẳng.

Baby Koala Hugs Unconscious Mom During Life-Saving Surgery

Phantom âu yếm và dịu dàng ôm vòng qua cổ mẹ. Dường như chính cái ôm ấm áp của chú gấu Koala con đã xoa dịu mọi nỗi đau và tiếp thêm sức mạnh cho Koala mẹ giành lấy sự sống trong giây phút sinh tử.

Baby Koala Hugs Unconscious Mom During Life-Saving Surgery

“Phantom cứ quấn lấy gấu túi mẹ Lizzy không rời trong suốt ca phẫu thuật. Còn nhiệm vụ của chúng tôi là phải thường xuyên kiểm tra cả hai mẹ con để đảm bảo tình trạng sức khoẻ của chúng vẫn ổn”, một nhân viên bệnh viện nói với ABC.

Baby Koala Hugs Unconscious Mom During Life-Saving Surgery

Sau khi ca phẫu thuật diễn ra thành công, các bác sĩ đã tách chú koala con ra riêng để dành cho gấu mẹ không gian yên tĩnh nghỉ ngơi phục hồi. Bé gấu koala được chăm sóc đặc biệt trong một chiếc túi vải giống như túi đựng trước bụng của gấu koala mẹ để nó có thể cảm nhận được hơi ấm của tình mẫu tử.

Baby Koala Hugs Unconscious Mom During Life-Saving Surgery

Nguồn: Kingdoms TV

Cô gái may mắn được cá voi Beluga đem trả lại chiếc điện thoại vô tình đánh rơi dưới biển

0

Cảnh tượng hy hữu: chú cá voi Beluga xuất hiện với món quà đặc biệt

Ina Mansika cùng những người bạn của mình đã trải qua khoảnh khắc đáng nhớ nhất của cuộc đời mình trong một chuyến du lịch bằng thuyền ở Hammerfest, Na Uy.

Whale Russia Norway

Họ đã tận mắt trông thấy một chú cá voi Beluga với một chiếc nịt quấn quanh mình, trông có vẻ như là một chiếc nịt có xuất xứ từ Nga, và nhiều người phỏng đoán rằng chú cá voi này thuộc một biệt đội đặc biệt do Nga huấn luyện.

After a small accident, Mansika dropped her phone in the water, only to be retrieved by the beluga who also came up to say hello.

Vì quá phấn khích trước vẻ đáng yêu của chú cá voi Beluga, Mansika đã bất cẩn làm rơi điện thoại xuống nước. Nhưng điều kì diệu cũng đã xảy đến khi mà chính chú cá voi đã tìm và giao trả lại điện thoại cho chủ nhân.

Friendly Beluga Returns Phone Woman Accidentally Dropped Into Ocean

“Chúng tôi cố gắng chồm gần xuống nước với hy vọng được chạm tay vỗ về chú cá voi. Nhưng thật không may khi tôi lại quên khoá kéo túi áo khoác và rồi chiếc điện thoại di dộng bị rơi xuống biển. Tưởng như chiếc điện thoại đã ra đi mãi mãi thì thật bất ngờ khi chú cá voi lặn sau xuống dưới và một lúc sau ngoi lên lại với chiếc điện thoại ngậm chặt trong miệng”, Manska chia sẻ với Dodo.

Mansika cho biết thêm: “Mọi người đều vô cùng kinh ngạc và không thể tin những điều đang diễn ra. Hành động của chú cá voi khiến tôi rất xúc động và cảm thấy biết ơn”

Mặc dù chiếc điện thoại đã không còn sử dụng được nữa, nhưng chúng ta vẫn luôn cảm thấy ấm áp và trân quý khi nghĩ về những gì mà chú cá voi Beluga đã làm.

Clip cuộc gặp gỡ thú vị giữa chú cá voi Beluga và chị Ina Mansika

[fvplayer id=”3″]

Ngỡ ngàng trước vẻ đẹp lộng lẫy của loài chim thuộc họ hàng gần nhất với chim Dodo

0

Mặc dù đã bị tuyệt chủng, nhưng những họ hàng của chim dodo được xác định vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.

Photo credit: Allen Chang

Trong số đó, chim bồ câu Nicobar là một loài chim quý hiếm và là họ hàng gần nhất của loài chim không biết bay dodo dù cho thực tế rằng chúng không hoàn toàn giống nhau. Một điểm khác biệt dễ nhận thấy đó là chim bồ câu Nicobar sở hữu bộ lông rực rỡ pha trộn giữa xanh lục, xanh lá cây xen kẽ nâu đỏ, cùng với đó là đôi chân màu đỏ và chiếc đuôi rất ngắn, thuần trắng. Sở dĩ mà loài chim này lại có được bộ lông óng ánh tuyệt đẹp như vậy là do vị trí địa lý nơi chúng sinh sống chủ yếu. Việc sống tách biệt ở những quần đảo nhỏ xa xôi hẻo lánh, nơi không có nhiều động vật săn mồi đã giúp chim bồ câu Nicobar tự tin khoác lên mình bộ áo sặc sỡ mà không sợ bị kẻ thù phát hiện.

Chim bồ câu Nicobar được tìm thấy chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á, Thái Bình Dương, và các vùng ven biển từ quần đảo Nicobar, Ấn Độ về phía Đông các nước Thái Lan và Papua New Guinea. Con số chính xác về số lượng chim bồ câu Nicobar hiện vẫn đang cần lời giải đáp, tuy nhiên thực tế thì nạn phá rừng cùng với sự di cư của những động vật ăn thịt khác (như chuột và mèo) đến những hòn đảo này góp phần làm giảm số lượng loài bồ câu Nicobar. Rất nhiều những biện pháp bảo tồn nhằm giúp khôi phục sự sống và phát triển của loài chim bồ câu Nicobar gần như có nguy cơ biến mất vĩnh viễn này đã được đưa ra.

Bồ câu Nicobar cũng đang được bảo vệ tại Côn Đảo, Việt Nam.

Photo credit: Larry Lim

Photo credit: Steve Wilson

Photo credit: PietervH

Photo credit: Henri Haneveer

Photo credit: wannachat / Shutterstock

Photo credit: Henner Damke / Shutterstock

Photo credit: dune00z / Shutterstock

Photo credit: Monthira Yodtiwong / Shutterstock

Photo credit: Jaochainoi / Shutterstock

Photo credit: Boonchuay Promjiam / Shutterstock

Photo credit: Yi-Lin Tsai / Shutterstock

Photo credit: Monthira Yodtiwong / Shutterstock

Chú gấu mèo mù cùng hai người bạn đồng hành được cô gái tốt bụng cho thức ăn

0

Vào một ngày, chú gấu mèo bị mù một bên mắt xuất hiện trước cửa nhà của cô Eryn ở Illinois như một duyên tiền định. Kể từ đó, mỗi ngày cô gái trẻ yêu động vật này luôn đặt sẵn thức ăn trước hiên nhà cho con vật đáng thương trong suốt hơn 5 năm qua.

Vào một buổi sáng, khi chú gấu mèo đang trên đường tiến đến địa điểm xin thức ăn như thường lệ, Eryn phát hiện rằng chú gấu mèo đã không còn đơn độc nữa, mà song hành cùng nó là hai chú mèo con trông như hai vệ sĩ nhí. Eryn đã không bỏ lỡ cơ hội để ghi lại khoảnh khắc tuyệt đẹp của bộ ba này suốt dọc đường đi.

Kể từ hôm đó, ngày nào chú gâú mèo cũng dẫn theo hai người bạn của mình đến xin đồ ăn sáng. Sau khi ăn xong, 2 chú mèo con lại hộ tống bạn gấu mèo  quay trở về thế giới tự nhiên. Cho đến một ngày, Eryn chỉ còn nhìn thấy sự xuất hiện của hai chú mèo con, cô nhận thức rằng chú gấu mèo đã ra đi mãi mãi. Tuổi thọ trung bình của loài gấu mèo thường từ một đến ba năm, nhưng trường hợp chú gấu mèo này thì nó đã sống đến tận 5 năm trước khi qua đời.

Sau khi chú gấu mèo không còn nữa, Eryn đã quyết định nhận nuôi hai người bạn của nó. Eryn đưa chúng về nhà, chăm sóc và yêu thương hết mực. Cô còn giúp chúng làm quen và chung sống hoà thuận với một chú mèo nuôi của gia đình.

Chính sự yêu thương chăm sóc và giúp đỡ của Eryn và hai chú mèo nhỏ tốt bụng đã giúp gấu mèo có được cuộc sống vui vẻ, lâu dài trước khi qua đời. Video này khơi dậy và nuôi dưỡng lòng nhân ái vốn dĩ luôn hiện hữu trong mỗi chúng ta.

Nguồn: Homes Luxury

Khoảnh khắc đáng yêu của bé cầy Meerkat lần đầu tiên trong đời được chụp ảnh

0

Mamekoro51 là một nhiếp ảnh gia người Nhật Bản. Anh thường lấy chủ đề về những bé động vật chưa trưởng thành làm nguồn cảm hứng cho những tác phẩm của mình.

Japanese Photographer Captures A Shy-At-First Baby Meerkat And Its Family In 23 Pics

mamekoro51

Trong một dịp đến thăm công viên văn hoá tự nhiên Inokashira ở Tokyo, nhiếp ảnh gia Mamekoro51 đã ghi lại được những hình ảnh đáng yêu của một gia đình cầy Meerkat (chồn đất châu Phi), đặc biệt là khoảnh khắc một chú Meerkat con tỏ ra vô cùng e ấp trước ống kính.

Japanese Photographer Captures A Shy-At-First Baby Meerkat And Its Family In 23 Pics

mamekoro51

Ban đầu chú Meerkat con nấp sau một bức tường, và dường như trông rất sợ hãi. Nhưng không lâu sau đó, nó đã mạnh dạn tiến lại gần vị nhiếp ảnh gia như thể muốn chào hỏi làm quen.

Japanese Photographer Captures A Shy-At-First Baby Meerkat And Its Family In 23 Pics

mamekoro51

Meerkat là một loài động vật ngộ nghĩnh sống chủ yếu ở các quốc gia châu Phi như Botswana, Angola, Namibia, và Nam Phi.

Japanese Photographer Captures A Shy-At-First Baby Meerkat And Its Family In 23 Pics

mamekoro51

Tiếp đến, chú Meerkat con còn thận trọng dẫn đường cho vị nhiếp ảnh gia đến nơi ở để gặp gia đình mình.

Japanese Photographer Captures A Shy-At-First Baby Meerkat And Its Family In 23 Pics

mamekoro51

Không rõ có bao nhiêu thành viên trong gia đình của chú Meerkat con này. Nhưng thông thường thì Meerkat là loài vật sinh sống theo từng bầy, mỗi bầy có khoảng từ 20 đến 50 cá thể.

Japanese Photographer Captures A Shy-At-First Baby Meerkat And Its Family In 23 Pics

Một điều rất đặc biệt là tất cả các Meerkat cái dù có hay chưa có con đều có khả năng tiết sữa cho Meerkat non bú.

Japanese Photographer Captures A Shy-At-First Baby Meerkat And Its Family In 23 Pics

Khi phát hiện có nguy hiểm rình rập, chúng sẽ đưa Meerkat con xuống dưới lòng đất ẩn nấp, và sẵn sàng chiến đấu để sinh tồn.

Japanese Photographer Captures A Shy-At-First Baby Meerkat And Its Family In 23 Pics

Hãy đồng hành cùng Mamekoro để đón xem những bức ảnh siêu đáng yêu của thế giới động vật.

Japanese Photographer Captures A Shy-At-First Baby Meerkat And Its Family In 23 Pics

mamekoro51

Japanese Photographer Captures A Shy-At-First Baby Meerkat And Its Family In 23 Pics

mamekoro51

Japanese Photographer Captures A Shy-At-First Baby Meerkat And Its Family In 23 Pics

mamekoro51

Japanese Photographer Captures A Shy-At-First Baby Meerkat And Its Family In 23 Pics

mamekoro51

Japanese Photographer Captures A Shy-At-First Baby Meerkat And Its Family In 23 Pics

mamekoro51

Japanese Photographer Captures A Shy-At-First Baby Meerkat And Its Family In 23 Pics

mamekoro51

Japanese Photographer Captures A Shy-At-First Baby Meerkat And Its Family In 23 Pics

mamekoro51

Japanese Photographer Captures A Shy-At-First Baby Meerkat And Its Family In 23 Pics

mamekoro51

Japanese Photographer Captures A Shy-At-First Baby Meerkat And Its Family In 23 Pics

mamekoro51

Japanese Photographer Captures A Shy-At-First Baby Meerkat And Its Family In 23 Pics

mamekoro51

Japanese Photographer Captures A Shy-At-First Baby Meerkat And Its Family In 23 Pics

mamekoro51

Japanese Photographer Captures A Shy-At-First Baby Meerkat And Its Family In 23 Pics

Image credits: mamekoro51

Japanese Photographer Captures A Shy-At-First Baby Meerkat And Its Family In 23 Pics

Image credits: mamekoro51

Japanese Photographer Captures A Shy-At-First Baby Meerkat And Its Family In 23 Pics

Image credits: mamekoro51

Japanese Photographer Captures A Shy-At-First Baby Meerkat And Its Family In 23 Pics

 

Nguồn: Kingdoms TV

Giải cứu chú gấu sau 20 năm bị giam giữ ở rạp xiếc

0

Hãy cùng tìm hiểu hành trình tìm lại tự do sau thời gian dài chịu đựng cuộc sống khắc nghiệt bị giam cầm của chú gấu bốn mắt đáng thương tên Cholita, đây là loài gấu được liệt vào danh sách quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng.

Sau hơn 20 năm bị nuôi nhốt ở rạp xiếc, cuối cùng Cholita đã được thả về với thế giới hoang dã, nơi mà nó vốn dĩ thuộc về. Sẽ không có bất cứ ngôn từ nào diễn tả hết được phản ứng vui mừng của Cholita lúc đó.

Cholita bị một nhóm người bắt khỏi mẹ của mình để đưa về một rạp xiếc ở Peru từ khi chú còn rất nhỏ, và cũng chính từ đây số phận của Cholita, nay đã được 25 tuổi đã thay đổi hoàn toàn. Cholita bị nhốt trong những chiếc lồng chật chội, và những lần hiếm hoi chú được ra ngoài là khi đến lượt biểu diễn cho khán giả. Nhưng điều tệ hơn mà Cholita phải trải qua đó là sự đối xử vô cùng tàn nhẫn của những huấn luyện viên ở rạp xiếc. Những năm tháng cô đơn và đau khổ của Cholita cứ thế mà lặng lẽ trôi qua.

Tưởng chừng như Cholita đã có được cơ hội quay về với thế giới tự nhiên khi mà rạp xiếc bị yêu cầu đóng cửa do hoạt động bất hợp pháp. Nhưng tiếc thay, nó lại bị đưa đến một vườn sở thú gần đó.

Tưởng chừng như mọi cánh cửa đều khép lại, thì 10 năm sau, Jan Creamer – chủ tịch tổ chức Bảo vệ Động vật Thế giới (ADI) đã quyết tâm tìm kiếm một mái nhà thực sự cho Cholita sau khi tình cờ biết được câu chuyện của nó. Đầu tiên, Cholita được chuyển đến nuôi dưỡng tại một trung tâm cứu hộ của ADI, rồi sau đó được đưa đến Khu bảo tồn sinh thái Taricaya. Nơi đây nổi tiếng là môi trường sống tự nhiên rất thích hợp cho loài gấu bốn mắt.

Sau cuộc hành trình kéo dài 4 ngày, Cholita cuối cùng cũng đặt chân đến ngôi nhà mới, nơi mà nó có thể tận hưởng những giây phút bình yên và tự tại cho đến cuối đời. Cùng chiêm ngưỡng cuộc sống mới tự do của chú gấu Cholita qua loạt ảnh dưới đây.

Bài viết mới