Thiên nhiên đã ban tặng cho dải đất hình chữ S một hệ sinh thái nhiệt đới vô cùng diệu kỳ. Với những dãy núi đá vôi sừng sững, những cánh rừng rậm rạp sương phủ và hệ thống sông ngòi chằng chịt, Việt Nam trở thành “chiếc nôi” ấp ủ hàng ngàn sinh vật mà bạn không thể tìm thấy ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới. Chúng ta gọi đó là những niềm tự hào mang tính “đặc hữu”.
Thế nhưng, đằng sau danh xưng hoa mỹ ấy là một cuộc đua sinh tồn đầy nước mắt. Dưới áp lực của nạn phá rừng, biến đổi khí hậu sinh cảnh và lòng tham săn bắt của con người, những di sản sống này đang lùi dần về phía cửa sổ của sự tuyệt chủng. Danh sách 10 loài động vật đặc hữu và quý hiếm bậc nhất dưới đây không chỉ là bản liệt kê sinh học, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh khẩn thiết nhất.
1. Sao La (Pseudoryx nghetinhensis) – “Kỳ lân châu Á” thoắt ẩn thoắt hiện
Năm 1992, giới khoa học toàn cầu đã chấn động khi phát hiện ra một loài thú lớn hoàn toàn mới ngay tại Vườn Quốc gia Vũ Quang (Hà Tĩnh). Sao la mang đến một vẻ đẹp huyền bí với cặp sừng dài, thon vút nhọn, song song thẳng đứng lên trời như những chiếc giáo. Điều đó đã làm nên biệt danh “Kỳ lân châu Á” vang danh thế giới.
Sao la là loài thú chỉ phân bố duy nhất dọc theo dãy Trường Sơn hùng vĩ, vắt ngang qua biên giới Việt – Lào. Chúng có tập tính sống vô cùng lặng lẽ, né tránh mọi dấu vết của con người, lẩn khuất dưới những tán lá cây thường xanh rậm rạp. Chẳng ai rõ chính xác còn bao nhiêu cá thể sao la đang hít thở không khí ngoài kia. Nhưng với tình trạng rừng bị chia cắt và hàng vạn chiếc bẫy dây phanh rải khắp Trường Sơn, loài linh vật này đang được IUCN xếp ở mức Cực kỳ nguy cấp (CR), đứng trước nguy cơ biến mất vĩnh viễn trước khi chúng ta kịp hiểu hết về chúng.
2. Voọc Mũi Hếch (Rhinopithecus avunculus) – Báu vật của những vách đá Tuyên Quang
Voọc mũi hếch là một trong số linh trưởng quý hiếm nhất hành tinh và chỉ có thể được tìm thấy tại vùng núi phía Bắc Việt Nam (chủ yếu ở Tuyên Quang và Hà Giang). Sở dĩ có cái tên ngộ nghĩnh này là bởi chiếc mũi của chúng bị hếch ngược lên trên một cách lạ thường, để lộ hai lỗ mũi to bự giữa khuôn mặt nhợt nhạt và vành môi phớt hồng.
Chúng là những vận động viên đu cây siêu hạng, dành gần như toàn bộ cuộc đời để di chuyển qua lại trên những vách núi đá vôi dựng đứng cheo leo. Việc mất đi những tán rừng cung cấp lá non – nguồn thức ăn chính yếu – đang tước đi cơ hội sống sót của chúng. Quần thể voọc mũi hếch ước tính hiện chỉ còn chưa đầy 250 cá thể, co cụm lại thành những nhóm nhỏ, chật vật băng qua những cánh rừng đang dần thưa thớt bóng cây.
3. Chà Vá Chân Xám (Pygathrix cinerea) – “Hoàng tử linh trưởng” rực rỡ miền Trung
Nếu phải chọn ra một đại diện nhan sắc trong thế giới linh trưởng Việt Nam, chà vá chân xám chắc chắn ở ngôi đầu bảng. Dáng vẻ của chúng vô cùng thanh tao với khuôn mặt màu vàng cam nổi bật, viền râu cằm kiêu hãnh và phần lông từ chân xuống ngực đan xen xám đen tuyệt đẹp. Khác với người anh em chà vá chân nâu, loài chà vá chân xám được coi là đặc hữu tuyệt đối của khu vực Trung Trường Sơn (trải dài từ Quảng Nam đến Kon Tum).
Cách chúng sinh hoạt cũng rất thanh cảnh. Những đàn chà vá thường ngồi vắt vẻo trên những cành cao nhất của tán rừng, thong thả hái những chồi non ngọt lịm. Việc săn bắt làm thuốc y học cổ truyền và nạn phá rừng trồng cao su đã đẩy quần thể loài này vào tình trạng suy giảm thê thảm. Hiện nay, chúng đang được các tổ chức quốc tế cực kỳ lưu tâm bảo vệ.
4. Vượn Cao Vít (Nomascus nasutus) – Tiếng hú xé lòng nơi non cao biên giới
Cái tên “Cao Vít” bắt nguồn từ chính tiếng hú đặc trưng vang vọng khắp sườn dốc mà người dân tộc Tày, Nùng thường nghe thấy mỗi buổi bình minh. Từng bị giới khoa học đau xót ghi nhận là đã tuyệt chủng, niềm hy vọng đã lóe lên vào năm 2002 khi Tổ chức FFI tái phát hiện ra chúng tại huyện Trùng Khánh (Cao Bằng).
Vượn Cao Vít là loài linh trưởng chỉ có mặt ở thảm rừng đá vôi tiếp giáp biên giới Việt – Trung. Với số lượng thống kê chỉ vỏn vẹn khoảng trên dưới 70 cá thể, chúng thậm chí còn hiếm hơn cả loài gấu trúc hoang dã. Sự sống sót của vượn Cao Vít giờ đây phụ thuộc hoàn toàn vào những nỗ lực tuần tra bám rừng của các đội kiểm lâm địa phương, giúp tiếng hú của chúng không bị tắt nghẹn mãi mãi.
5. Rùa Hoàn Kiếm (Rafetus swinhoei) – “Cụ rùa” và huyền thoại gươm thần
Thường được biết đến với tên gọi Giải Sin-hoe, rùa Hoàn Kiếm không chỉ là một trong những loài rùa nước ngọt lớn nhất thế giới mà còn là biểu tượng tâm linh bất diệt của người dân thủ đô Hà Nội. Sở hữu chiếc mai khổng lồ mềm mại và tấm lưng rộng ngoác, chúng có thể nặng tới cả tạ và sống hàng trăm năm sâu dưới lòng hồ.
Thảm kịch đã diễn ra khi cá thể rùa cuối cùng tại hồ Gươm ra đi vào năm 2016, để lại sự tiếc thương vô hạn. Hiện tại, cả thế giới chỉ còn ghi nhận chính thức đúng 3 cá thể sống sót (hai ở Trung Quốc và một ở hồ Đồng Mô, Hà Nội). Khả năng tìm thấy thêm một cá thể cái để duy trì nòi giống là vô cùng mờ mịt. Có thể nói loài rùa mang đầy tính truyền thuyết này đang phải lách mình qua cánh cửa hẹp nhất của sự sống.
6. Cá Cóc Tam Đảo (Paramesotriton deloustali) – Hóa thạch sống dưới những con suối lạnh
Lẩn khuất dưới những dòng suối róc rách trong vắt của Vườn Quốc gia Tam Đảo, bạn có thể bắt gặp một sinh vật trông như những con rồng nước nhỏ bé bước ra từ thời tiền sử: Đó chính là cá cóc Tam Đảo. Dù mang tên là “cá”, chúng lại là một loài lưỡng cư đặc hữu của miền Bắc Việt Nam.
Lớp da trên lưng sần sùi màu sậm đen, nhưng dưới bụng lại rực rỡ một màu đỏ cam dệt các vòng đen vô cùng sặc sỡ để cảnh báo kẻ thù. Cá cóc Tam Đảo thường náu mình nằm bất động dưới kẽ đá hay rễ cây ngập nước. Đáng tiếc, chính màu sắc bắt mắt đó đã khiến chúng bị lùng sục ráo riết để đem bán làm sinh vật cảnh hoặc ngâm rượu, biến sự độc đáo của chúng trở thành tấm bi kịch.
7. Trĩ Sao (Rheinardia ocellata) – Chiếc đuôi rực rỡ giữa đại ngàn
Khuất lấp dưới những vòm lá tối tăm của rừng rậm Trường Sơn thỉnh thoảng lại hé ra một màn trình diễn sặc sỡ của trĩ sao. Đây là một loài chim vô cùng kiễng kỉnh, phân bố chủ yếu ở khu vực miền Trung Việt Nam và miền Đông nước Lào.
Mái vòm lông đuôi của con đực trĩ sao thuộc hàng dài và đẹp nhất trong thế giới lông vũ, có thể vươn dài đến gần 2 mét. Trên từng nếp lông vằn điểm xuyết vô vàn những họa tiết đốm trắng tựa như những vì sao trên bầu trời đêm. Để thu hút con cái, trĩ sao đực dọn một khoảng đất sạch sẽ, xòe rộng hết cỡ chùm lông đuôi đồ sộ rung lên bần bật tạo ra tiếng rít xé gió rền rĩ. Nạn săn bẫy bằng dây phanh quét qua thảm rừng đang là tác nhân lớn nhất tước đi sinh mạng của loài chim lộng lẫy này.
8. Cá Sấu Xiêm (Crocodylus siamensis) – Sự trở về kỳ diệu tại Bàu Sấu
Dù phân bố tại nhiều quốc gia Đông Nam Á, câu chuyện về cái chết và sự hồi sinh của cá sấu xiêm tại Việt Nam lại mang một màu sắc “đặc hữu” vô cùng thiêng liêng. Những con bò sát có chiếc mõm rộng bọc xương sừng nhô cao này tưởng chừng đã biến mất hoàn toàn vào thập niên 90 vì bị tàn sát dã man.
Chỉ đến khi dự án bảo tồn năm 2000 mang 60 cá thể thuần chủng thả về tự nhiên tại Bàu Sấu (Đồng Nai), chúng mới thực sự giành lại được quê hương. Giờ đây, hàng trăm cá thể cá sấu xiêm đang thỏa sức bơi lội, lặn ngụp dưới hệ thống đầm lầy thanh bình của Nam Cát Tiên. Tuy thế, quần thể tái thả này vẫn như “ngọn đèn trước gió” và luôn cần được che chở tuyệt đối để tránh những bàn tay săn trộm nhòm ngó.
9. Tê Tê Javan (Manis javanica) – Cỗ xe bọc thép bất lực trước con người
Tê tê Javan sở hữu lớp áo giáp tiến hóa bằng keratin khép kín từ đầu đến đuôi. Một khi đã cuộn tròn thành quả bóng sừng, không một chiếc nanh sắc nhọn nào của thú dữ có thể tổn hại. Chúng là những chuyên gia đào bới, sử dụng chiếc lưỡi dài nhão nhoét để quét sạch những tổ kiến ngầm dưới đất.
Trớ trêu thay, khả năng phòng vệ siêu đẳng của “cỗ xe bọc thép” này lại vô tác dụng trước những gã săn lùng. Do lời đồn thổi phản khoa học về tác dụng y lý của vảy tê tê, Việt Nam đã trở thành một trong những điểm nóng buôn lậu lớn nhất toàn cầu. Quần thể tê tê Javan trải dọc Nam Trung Bộ và Nam Bộ đang suy kiệt nghiêm trọng, buộc loài này phải sống trong tình trạng treo trên lằn ranh tuyệt chủng.
10. Hổ Đông Dương (Panthera tigris corbetti) – Tiếng gầm tắt lịm giữa đại ngàn
Khép lại danh sách là “Chúa sơn lâm” trứ danh của rừng già: Hổ Đông Dương. Lịch sử đã từng vinh danh những cánh rừng miền Trung Việt Nam là vương quốc của chúng. Cơ thể nhỏ gọn nhưng vô cùng săn chắc, màu vằn sẫm tối hơn hổ Bengal, hổ Đông Dương chính là biểu tượng của sức mạnh rừng hoang dã.
Tuy nhiên, nạn săn bắt cất bóp nấu cao hổ cốt đã giáng những đòn chí tử lên sự sinh tồn của chúng. Kể từ những năm cuối thập niên 90, dấu vết của hổ hoang dã tại Việt Nam đếm trên đầu ngón tay. Vết chân tàn tạ, những vạch camera bẫy ảnh vắng bóng đi sự oai phong của chúa tể khiến chúng ta phải nuốt trái đắng: Hổ Đông Dương ngoài tự nhiên ở Việt Nam có thể chỉ còn là con số 0 tròn trĩnh, nếu chúng ta không có một phép màu phục hồi nào giống như cách đã làm với cá sấu xiêm.
Câu hỏi thường gặp
Động vật đặc hữu là gì? Động vật đặc hữu (endemic) là thuật ngữ chỉ một loài hay phân loài chỉ có thể được tìm thấy tại một khu vực địa lý giới hạn duy nhất, không phân bố ở bất kỳ nơi nào khác ngoài tự nhiên. Chẳng hạn, Voọc Mũi Hếch là loài đặc hữu tuyệt đối của miền Bắc Việt Nam.
Chúng ta có thể xem Sao La hay Vượn Cao Vít ở sở thú không? Phần lớn các loài nguy cấp như Sao La, Vượn Cao Vít rất khó tồn tại trong điều kiện nuôi nhốt thông thường do sự nhạy cảm về tâm lý và môi trường sống ngặt nghèo. Hiện tại chưa có nơi nào nuôi giữ được Sao La trên thế giới.
Nếu muốn góp quỹ bảo vệ động vật nguy cấp Việt Nam thì phải làm sao? Bạn có thể theo dõi và quyên góp một cách thiết thực qua các tổ chức bảo tồn chính thống tại Việt Nam như Save Vietnam’s Wildlife (SVW), Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV), Tổ chức WWF Việt Nam, hoặc FFI.
Mất đi những loài đặc hữu có ảnh hưởng đến con người? Hệ sinh thái giống như một cỗ máy đan chéo khổng lồ. Mất đi hổ, thú ăn cỏ sẽ bùng phát phá hoại rừng. Mất đi linh trưởng, hạt xẻng không được phát tán. Sự vỡ vụn của hệ sinh thái cuối cùng sẽ tước đi nguồn nước và khí hậu ôn hòa nuôi sống chính con người.
Cần xử trí thế nào nếu phát hiện động vật hoang dã bị bày bán? Không mua, không động chạm. Hãy dùng điện thoại chụp hình từ xa làm bằng chứng và gọi ngay đến đường dây nóng bảo vệ động vật hoang dã miễn phí 1800-1522 của ENV để tố giác lực lượng chức năng.
Lời kết cho 10 báu vật trên đây cũng chính là thông điệp mà tự nhiên gửi gắm: Đừng để thế hệ con cháu chúng ta chỉ còn biết đến Sao La hay Voọc qua những trang sách ố vàng. Rừng còn tiếng hú, sông còn sóng vỗ thì sự sống sẽ mãi sinh sôi.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) – Red List of Threatened Species. 2. Sách đỏ Việt Nam – Bộ Khoa học và Công nghệ (Vietnamese Red Data Book). 3. Báo cáo Tình trạng Các loài Linh trưởng tại Việt Nam – Trung tâm Bảo tồn Đa dạng Sinh học Nước Việt (GreenViet). 4. Save Vietnam’s Wildlife – Báo cáo thường niên cứu hộ tê tê và tê tê Javan.


















Nigrita đã cho ra đời lứa trứng đầu tiên trong năm nay. Việc mang thai và đẻ con ở độ tuổi 80 là việc hết sức bình thường đối với loài Galapagos.
Trên thực tế, rùa Galapagos chỉ bắt đầu thời kì sinh sản khi chạm ngưỡng 40 tuổi. Chúng được biết đến là một trong số động vật sống lâu nhất trên Trái đất. Xét theo vòng đời của loài Galapagos thì Nigrita hiện đang trong giai đoạn phát triển đỉnh cao. Mặc dù có thể sống đến tận 150 năm nhưng dưới tác động của con người cùng với mối nguy hiểm từ kẻ thù săn mồi dẫn đến số lượng loài rùa Galapagos đang bị đe doạ. Cụ rùa Nigrita và chín rùa con nhận được sự chăm sóc và theo dõi đặc biệt theo chương trình nhân giống tại vườn thú Zurich. Cùng với những con rùa khác, Nigrita đã cứu loài Galapagos khỏi cảnh tuyệt chủng.
















