Hệ sinh thái là gì
Một con Sao biển xanh đậu trên san hô cứng Acropora và Porites (người ta cũng có thể nhìn thấy cá Anthiinae và crinoid) Rạn san hô Ribbon, Rạn san hô Great Barrier.. Ảnh: Richard Ling <wikipedia@rling.com> / Wikimedia Commons / CC BY-SA 3.0

Hệ sinh thái là gì

Hệ sinh thái (tiếng Anh: ecosystem) là một hệ thống bao gồm các sinh vật sống tương tác với môi trường vô sinh xung quanh chúng thông qua dòng năng lượng và chu trình tuần hoàn vật chất. Nhà sinh thái học Arthur Tansley hình thành khái niệm này để mô tả sự gắn kết không thể tách rời giữa thành phần sinh học với các yếu tố vật lý như nước, ánh sáng, khoáng chất trong đất. Biết được nhiệt độ, độ ẩm và cách các loài sinh vật tương tác, ta hiểu được lý do một khu rừng nhiệt đới hay một rạn san hô có thể tự duy trì sự sống qua hàng ngàn năm.

Cơ chế vận hành của một hệ sinh thái

Rừng gai ở Ifaty, Madagascar, có nhiều loài adansonia (baobao), alluaudia procera (Madagascar ocotillo) và các thảm thực vật khác.
Rừng gai ở Ifaty, Madagascar, có nhiều loài adansonia (baobao), alluaudia procera (Madagascar ocotillo) và các thảm thực vật khác.. Ảnh: JialiangGao www.peace-on-earth.org / Wikimedia Commons / CC BY-SA 4.0

Hệ sinh thái hoạt động dựa trên sự dịch chuyển không ngừng của năng lượng và chất dinh dưỡng. Năng lượng chủ yếu đi vào hệ thống dưới dạng ánh sáng mặt trời. Thực vật sử dụng năng lượng này, kết hợp với muối khoáng để tạo ra chất hữu cơ. Các loài động vật ăn cỏ tiêu thụ thực vật, sau đó chúng lại trở thành nguồn thức ăn cho những kẻ săn mồi ở bậc cao hơn.

Ở mắt xích cuối cùng, vi sinh vật phân giải xác chết động thực vật. Quá trình này giải phóng khoáng chất trở lại môi trường đất hoặc nước để thực vật tiếp tục vòng tuần hoàn mới. Sự phong phú về số lượng loài giúp hệ sinh thái giữ được trạng thái cân bằng và tăng khả năng phục hồi sau những xáo trộn lớn từ môi trường. Một số nhà sinh thái học lập luận rằng một hệ thống cần nhiều loài hỗ trợ lẫn nhau để vận hành trơn tru. Số khác lại nhấn mạnh tầm ảnh hưởng của một vài loài then chốt trong việc ngăn chặn toàn bộ hệ thống sụp đổ.

Sự ổn định của các cơ chế tự nhiên này tạo ra các dịch vụ hệ sinh thái. Tự nhiên cung cấp lương thực, điều hòa khí hậu và mang lại giá trị văn hóa cho con người. Năng suất của hệ thống tự nhiên là nền tảng hỗ trợ đa dạng sinh học, quyết định trực tiếp đến sự phát triển của xã hội con người.

Các kiểu hệ sinh thái chính trên Trái Đất

Các nhà khoa học phân chia hệ sinh thái dựa trên đặc điểm của môi trường vật lý. Sinh quyển quy tụ một lượng lớn các hệ thống khác nhau. Sự đa dạng này tạo ra lưới bảo vệ giúp Trái Đất chống chịu lại các biến đổi khắc nghiệt.

* Hệ sinh thái trên cạn (terrestrial ecosystem): Môi trường này là nơi cư trú của 68% các loài đang bị đe dọa và 75% các loài đã tuyệt chủng. Những vùng rừng nhiệt đới là đại diện tiêu biểu nhất với lượng mưa dồi dào. Tầng đất mặt ở đây thường nghèo dinh dưỡng do khoáng chất bị rửa trôi nhanh chóng. Việc tái chế dinh dưỡng phụ thuộc hoàn toàn vào lớp mùn đang phân hủy trên mặt đất dưới sự hoạt động mạnh mẽ của côn trùng và nấm. Rễ cây rừng nhiệt đới thường ăn nông, phát triển rễ bạnh vè để tăng cường sự vững chắc và hỗ trợ hấp thụ khí carbon dioxide. Ngoài ra, nhóm thực vật sinh bào tử như rêu lại giữ chức năng sinh thái cốt lõi trong việc lưu trữ carbon tại các hệ sinh thái rừng phương bắc hay vùng đầm lầy than bùn. * Hệ sinh thái dưới nước (aquatic ecosystem): Nhóm này bao gồm các vùng đại dương và môi trường nước ngọt. Rạn san hô là cấu trúc nổi bật ở vùng biển nhiệt đới, hình thành từ sự tích tụ calcium carbonate. Chúng chỉ phát triển ở những vùng địa lý có nhiệt độ nước tối thiểu 20°C. San hô hoạt động như những kỹ sư sinh thái, tạo không gian sống cho các loài khác thông qua mối quan hệ cộng sinh với tảo xoắn. * Hệ sinh thái giao thoa: Một số loài sử dụng cả môi trường cạn và nước. Côn trùng bộ Phù du (Ephemeroptera) dành phần lớn vòng đời làm ấu trùng dưới nước, sau đó lột xác thành con trưởng thành sống trên cạn trong vài ngày ngắn ngủi để sinh sản rồi chết đi.

Phân biệt hệ sinh thái, quần xã và khu sinh học

Vine Maple (lá xanh nhạt), Sword Fern (ở hai bên đường mòn), chi và rễ cây Bigleaf Maple phủ đầy rêu và người đi bộ đường dài.
Vine Maple (lá xanh nhạt), Sword Fern (ở hai bên đường mòn), chi và rễ cây Bigleaf Maple phủ đầy rêu và người đi bộ đường dài.. Ảnh: Wsiegmund / Wikimedia Commons / CC BY 2.5

Các thuật ngữ mô tả tổ chức tự nhiên rất dễ gây nhầm lẫn. Ta cần tách bạch rõ ba khái niệm này để hiểu đúng quy mô của chúng.

* Quần xã sinh vật (biotic community): Khái niệm này chỉ bao gồm phần SỐNG. Đây là tập hợp các loài động vật, thực vật và vi sinh vật cùng chung sống trong một không gian. * Hệ sinh thái (ecosystem): Là một bậc tổ chức cao hơn. Nó bao gồm quần xã sinh vật cộng thêm phần VÔ SINH như ánh sáng, đất, nước và cách dòng năng lượng luân chuyển giữa tất cả các thành tố này. * Khu sinh học (biome): Là một vùng địa lý vô cùng rộng lớn trên Trái Đất có chung điều kiện khí hậu. Thuật ngữ do Frederic Clements sử dụng để mô tả một tổ hợp bao trùm nhiều hệ sinh thái nhỏ bên trong nó.

Đa dạng hệ sinh thái tại Việt Nam

Việt Nam nằm trọn trong khu vực Indo-Burma. Đây là một trong 36 điểm nóng đa dạng sinh học toàn cầu được Quỹ Đối tác Hệ sinh thái Yếu kém (CEPF) ưu tiên bảo vệ. Thiên nhiên Việt Nam trải dài qua nhiều dạng sinh cảnh phức tạp. Ở các vùng đất ngập nước ven sông hoặc đầm lầy, quần thể Mèo rừng xám (Felis chaus) thiết lập lãnh thổ săn mồi dựa vào thảm thực vật lau sậy rậm rạp. Loài thú họ Mèo này hiếm khi xuất hiện ở rừng mưa nhiệt đới nguyên sinh mà chuộng các môi trường có sự kết hợp giữa nguồn nước và bụi rậm.

Con người đang làm đứt gãy sự liên kết tự nhiên thông qua việc khai thác tài nguyên quá mức và chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Áp lực từ hoạt động nông nghiệp làm thay đổi chất lượng đất và cắt đứt các hành lang di cư của động vật hoang dã. Sự phục hồi của tự nhiên tại các vùng nhiệt đới độ đa dạng cao đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về tương tác giữa các loài và cách hệ thống phản ứng với những biến đổi cực đoan của khí hậu. Việc bảo tồn đa dạng sinh học, bao gồm cả lưu trữ vật liệu di truyền của các loài nguy cấp, là nỗ lực quan trọng nhằm duy trì cấu trúc của toàn bộ hệ thống tự nhiên.

Câu hỏi thường gặp

Mất đa dạng loài ảnh hưởng đến hệ thống tự nhiên như thế nào?

Sự sụt giảm số lượng loài làm giảm sức chống chịu của toàn bộ hệ thống. Những thử nghiệm dài hạn trên đồng cỏ cho thấy tác động làm suy giảm sinh khối của việc mất đi các loài lớn tương đương với những tác động trực tiếp từ ô nhiễm nitơ hay hạn hán do con người gây ra.

Dịch vụ hệ sinh thái có đo lường được không?

Các nhà kinh tế học và sinh thái học có thể gán giá trị bằng tiền cho các dịch vụ tự nhiên. Việc này giúp đánh giá chi phí thiệt hại khi một sinh cảnh bị phá hủy so với lợi ích kinh tế ngắn hạn thu được tại khu vực đó.

Sinh vật phân giải giữ chức năng gì?

Vi khuẩn và nấm đứng ở cuối chuỗi thức ăn. Chúng có nhiệm vụ tái khoáng hóa chất hữu cơ từ xác chết, giải phóng muối khoáng vào môi trường để thực vật tái hấp thụ trong quá trình quang hợp. Đây là quá trình ít được chú ý nhưng mang ý nghĩa sống còn cho tự nhiên.

Đất nghèo dinh dưỡng có tạo ra được rừng lớn không?

Có. Rừng nhiệt đới sở hữu tầng đất mặt rất nghèo nàn do mưa rửa trôi. Khối lượng dinh dưỡng khổng lồ của rừng nằm ngay trong lớp mùn rụng trên mặt đất và được côn trùng cùng nấm phân hủy, quay vòng liên tục ngay phía trên tầng đất.